Trang

5 tháng 2, 2019

CÁO THỊ TRƯ VƯƠNG




Triệt thoái cựu niên;
Khai thông năm mới.
Cáo thị  vuaTrư!
Tuyên ngôn soái Hợi.

Trôi vèo thời khắc, quá khứ lui khắp chốn buồn tênh;
Thấm thoát âm quang, tương lai tiến muôn nhà phấn khởi.
Chó chuồn hạ phướn lủi thủi xuội lơ;
Heo nhảy giăng cờ tung hoành phơi phới.

Nghiệm ngọn dò nguồn;
Truy căn nhớ cội.
Suy ra tính tốt rõ lành;
Nghĩ lại điều hư đầy tội.

Xấu hổ thay:
Tán tỉnh Hằng nga bởi dâm đãng nhập nhằng;
Hàm ơn Vương Mẫu tha dục tinh quấy rối.
Tính xấu không chừa háo sắc lăng nhăng;
Điều hư chẳng bỏ mê hoa bê bối.

Tham ăn chẳng kể trưa chiều;
Tục uống không chừa sáng tối.
Tiền nhân gieo huyết thống truyền lưu;
Hậu duệ gặt di căn tiếp nối.

Tự hào lắm:
Tổ tông ta Nguyên soái Tiên bồng ;
Dòng tộc tớ Ngộ năng Bát giới.
Dù bảy hai thông địa sát, cây thiết bàng sư huynh diệt quỷ ngần ngừ;
Chỉ ba sáu phép thiên cang, ngọn bồ cào tiểu đệ trừ ma tuyệt đối.

Tai to đùng khí lực tiềm tàng;
Bụng lớn bự tim gan nổi trội.
ChứcTịnh đàn hưởng lộc khỏe re;
Ngôi Sứ giả thu ân gấp bội.

 Ngày nay:
Tam sinh rực rỡ giữa hàng;
Lục súc nghiễm nhiên chung hội.
Danh xưng mỗi chốn: trệ- cúi- thỉ- trư;
Tên gọi tùy vùng: Lợn- heo- ủn- hợi.

Sống chẳng ước giường cao;
Chết không màng mộ khối.
Thề tri ân sinh ký thân dâng;
Nguyện di chúc tử quy mạng gởi.

Lòng xả thân khi vui vẻ hài hòa;
Quyết vị nghĩa lúc khóc sầu bối rối.
Đôi lứa vui vầy hòa hợp, cỗ lòng chay cảm tạ ông mai;
Vợ chồng hạnh phúc thủy chung, mâm thủ cấp tri ân bà mối.

Quân sát sinh lạt trói đè ngang;
Lão đồ tể dao găm thọc tới .
Éc vài câu tim vỡ tàn sinh;
Ộc một tiếng huyết trào hấp hối.

Thế rồi:
Trưng bày giỗ chạp ma chay;
Chế biến tiệc tùng cưới hỏi
Ngoại hình lổn ngổn: Giò- thăn- nạc- mỡ- thủ- mông;
Nội tạng ê hề: Cật- họng-  tim- gan- phèo- phổi.

Luộc- chiên- xào- nấu um đầy;
Ninh- mọc- giò- nem vô khối.
Bát tiết canh đặt xuống nguội đông;
Tô bầu dục bưng lên nóng hổi.

Đĩa nem ngon quéo lưỡi dậy mùi ; 
Nồi lẫu dịu quăn môi ngút khói .
Tay gắp tựa giông tràn;
Miệng nhai như sấm trổi.
Chép mồm đánh ực, rung đùi nhịp nhịp khen lao;  
Khà họng gật gù, ngoác miệng oang oang cười nói.

Đau đớn quá, kể không xong tâm sự lùng bùng;
Xót xa thay, Than chẳng hết nguồn cơn rắc rối.

Thôi vậy:
Dạ từ bi bỏ hận dung tình;
Tâm hỷ xả buông thù xá tội.
Cờ vào tay phải phất liên hồi;
Ghế đã xếp nên ngồi phấn khởi.

Chắc chắn an vui;
Đoan nguyền thơ thới.
Lăn tay: Heo;
Đóng triện: Hợi!

Bóng Tà Dương – Bùi Nghiệp



XUÂN VĨNH CỬU



(Độc vận)

Tứ thời luân chuyển;
Bát tiết tuần hoàn.
Vạn nhà  hạnh phúc;
Trăm họ khang an!

Cựu nhật qua, ách nạn phăng trôi theo tuế nguyệt;
Minh niên đến, an bình kíp ngự với tâm can.
Hồng diệp tân sinh xuân trướng noãn.
Ngân hà sơ độ dạ hương thâm. (1)

Tình Chúa tựa nắng mai, soi sắc thắm hồng ngàn tia ấm;
Ơn Trời như mưa móc, tưới lộc non xanh vạn nhánh mầm.
Kìa én nghiêng trời - múa chao rợp bóng;
Nọ hoa ngập đất – phô sắc man vàn.

Chúc hoa hỷ tịnh lựu hoa diệm.
Bồ tửu hân liên cẩn tửu châm. (2)
Ướp đời thêm vị thắm;
Nồng thế nức hương lan.
                                                                      
Trút  bỏ buồn phiền vơi lắng;
Giữ gìn an lạc chứa chan.
Già nhủ cháu con chớ quên cội rễ;
Trẻ ghi trưởng thượng đâu mất nguồn căn.

Lộc trổ sơn lâm,  đức tài chiếu toả che trời đất;
Phước thâm giang hải, trung nghĩa nồng nàn phủ thế nhân.
Gia quyến thuận hoà tăng hạnh phúc;
Tình người yêu mến ngập hân hoan.

Huyên thảo điệt linh thiêm  tú sắc.
Lê viên khách thọ bá huy âm. (3)
Rượu vài ngụm lao xao hương vị đọng;
Thơ mấy vần tươi tắn quyện thanh ngân.

Khắc vui trần thế mau qua mất,
Hoan lạc thiên đường miên viễn luôn.
Cầu ánh chiếu soi tăng vạn phúc;
Nguyện cơn mưa giáng trải muôn ân.

Cuộc trăm tuổi - là di trú thế trần hữu hạn;
Cõi vạn niên – chính hồi hương thiên quốc vô ngần.
Bờ nhân thế mơ phù hoa huyền ảo;
Bến quê trời thực vĩnh cửu hồng ân.

Nay thế trần đây, ăn ở tròn nhân tròn nghĩa;
Mai thiên quốc đó, nghỉ an vẹn kiếp vẹn phần.
Đấng vô thủy vô chung, đầy phép tắc tác sinh ức vạn;
Bậc hữu tiền hữu hậu, đủ quyền năng tạo dựng muôn ngàn.

Nguyện thần khí đến gieo tràn xã tắc;
Cầu chúa xuân về trải ngập giang san.
Dâng đôi bạch lạp!
Thắp đỉnh trầm nhang.

Hành trình thế tục!
Hướng vọng thiên đàng!...

Bùi Nghiệp

--==---
Chú thích:
(1)Lá thắm mới sinh, trướng xuân ấm.
Ngân hà vừa vượt, hương đêm nồng
(2)Hoa đuốc kề bên hoa lựu đẹp.
Rượu nho cùng với rượu cẩn mời
(3) Cỏ huyên năm tháng thêm tươi đẹp.
Vườn  lê chúc thọ rộn âm thanh


12 tháng 9, 2018

VĂN TẾ CHA PHAN-XI-CÔ XA-VI-Ê HOÀNG ĐÌNH MAI



VĂN TẾ CHA PHAN-XI-CÔ XA-VI-Ê HOÀNG ĐÌNH MAI
(Nhà văn Gã Siêu)
 (Từ trần 01.9.2018)


Về nơi vĩnh phúc;
Xa chốn trần ai.
Bảy mốt tuổi người đời, hoà lận đận chồn chân tục luỵ;
Bốn ba năm linh mục, mãi trung thành vui bước thiên sai.

Khi xưa:
Từ Ngọc Thạch đầu tiên phấn khởi;
Đến An Sơn tiếp nối bừng say. (1)

Dạy tín hữu ngôn từ trau chuốt;
Khuyên chiên đàn chữ nghĩa khoan thai.
Việc quản lý ngày ngày trung tín;
Báo Tĩnh tâm tháng tháng miệt mài.

Ôm đè khối óc;
Nặng trĩu bờ vai.
Vằng vặc Khuê tinh, nụ hàm tiếu tươi hồng dìu dắt;
Ngời ngời Các tú, hoa mẫu đơn thắm đỏ minh khai.(2)

Ấnh mắt lộ nhân hiền, sớt sẻ ly tao ngọt đắng;
Khuôn dung ngời phúc hậu, trùng phùng hội ngộ nồng cay.
Đèn chiếu toả, Tuỵ Hiền soi bùng uốn nắn;
Bút thần thông, Gã Siêu vạch nét thẳng ngay. (3)

Than ôi!
Vân toả Long giang nhân bất kiến; (4)
Nguyệt minh Thất lĩnh hạc qui lai.
Giá nghiên son đột ngột rơi tan, hồn nghệ sĩ phiêu du vĩnh phúc;
Ngòi bút sắt bất ngờ bẻ gẫy, trí văn nhân lãng đãng xuân đài.

Xuân ảnh dĩ tùy tàn nguyệt khứ;
Quế hương do trục hảo phong lai. (5)
Cha giã biệt vội vàng, buông tay lái bảy mươi niên khứ;
Người ra đi đột ngột, gác mái chèo thất thập cổ lai.

Dù chia ly cõi đất;
Dẫu cách biệt ngàn mây.
Nghiên mực khô, cứ đọng lại ngôn từ tế nhị;                                              
Trang sách khép, còn lưu ghi chữ nghĩa khôi hài.

Nay chúng con:
Thắp làn hương, ngàn tín hữu u sầu đẫm lệ;
Đốt ngọn nến, trăm chúng con nức nở chia tay.
Nguyện dẫn dắt đến quê Trời, khấn lượng từ nhân Đức Chúa;
Xin dìu đưa vào Đất hứa, nhờ lòng bảo hộ Quan thầy.

Vĩnh biệt!
U hoài!

Bùi Nghiệp
-- -- -- -- --

Chú thích:
 (1) Phó xứ Ngọc Thạch và chánh xứ An sơn.
(2)Sao Khuê, sao Các: tượng trưng sao chiếu mệnh văn nhân uyên bác trong nhị thập bát tú.
(3) Tuỵ Hiền và Gã Siêu là bút danh của cha.
(4)Mây khoá sông An giang người chẳng thấy; Trăng soi núi Thất sơn hạc bay về.
 (5)Xuân ảnh đã theo trăng xế bóng; Quế hương còn đuổi gió lành đi.


4 tháng 6, 2018

VĂN TẾ ĐỨC CỐ TỔNG GIÁM MỤC PHI-LIP-PHÊ NGUYỄN KIM ĐIỀN




(Giỗ 30 năm ngày ly trần (08.06.1988-2018)


Thánh hiệu Phi-líp;
Danh xưng Kim Điền.
Dòng Phúc âm Tiểu đệ;
Tổng giám Mục cai quyền.

Sách ghi:
Từ Tân dậu (1921), miền Long Đức- Trà Vinh, khai nhịp sống môi chào hàng nhân thế;
Đến Mậu thìn (1988), xứ Sài Gòn - Chợ Rẫy , trút làn hơi diện kiến Đấng vô biên.

Thời thơ ấu bền tâm , trao dâng bước chủng sinh vững chãi ;
Lúc trưởng thành quyết chí, tận hiến đời linh mục trung kiên.
“Nên mọi sự cho mọi người”, khắc ghi  câu khẩu hiệu; (1)
Bởi muôn loài do Thiên Chúa, in tạc chữ tâm nguyền.

Xin nhập dòng Tiểu đệ Phúc âm, qua lục địa quan san cách trở;
Quyết theo học chư huynh gương sáng, chọn Phi châu ranh giới khác miền.
Tuy xa lạ mà tâm đồng ý hợp;
Còn ngỡ ngàng lại nghĩa hảo tình viên.
 
Rèn luyện tâm hồn minh mẫn;
Dũa mài trí tuệ thâm uyên.
Chia sẻ với hàng hàng khốn khổ;
Cảm thông cùng lớp lớp đau phiền.

Hồi bản quốc cam tâm, phu khuôn vác nhọc nhằn vất vả;
Về cố hương tình nguyện, đạp xích lô cơ cực truân chuyên.
Giúp an ủi cùng thứ hàng lao động;
Đem mến yêu đến tầng lớp thợ thuyền.

Ba chin tuổi, vinh phong chủ chăn Hội thánh;
Bốn bảy xuân, đáo nhậm Tổng giám Thừa Thiên.
Gậy bảo vệ ngăn ngừa đám sói;
Tay canh phòng chăm sóc đàn chiên.

Thuở ấy!
Nhân sinh chao đảo;
Thời thế ngả nghiêng.
Bè thống trị chê khinh tín ngưỡng;
Bọn đương cai dẫm đạp nhân quyền.

Tính toán đủ mọi mưu mô:  Quản thúc, cầm chân, khảo tra, bắt bớ;
Điều hành bao nhiêu thủ đoạn:  Tù đày, cản bước, lùng sục, tịch biên.
Chủng viện thanh trừng, cấm chỉ vị tông đồ dẫn đạo;
Giáo đường ngăn cản, đe loi người mục tử chăn chiên.

Dựa thế lực hoành hành lộ liễu;
Dùng uy trần hiếp đáp ngang nhiên. 
Xông pha dấn bước không ngừng, thề chống chọi bão giông vất vả;
Can đảm hành trình chẳng nghỉ, quyết đương đầu sóng gió truân chuyên.

Thảm thay:
Lão đương ích tráng, hùng tâm vị dĩ;
Vãn tiết kiên trinh, đẩu chí di kiên. (2)
Chưa trọng bệnh lại tàn sinh vội vã;
Còn an khang sao thảm tử đột nhiên.

Đất lục vẫn thông điều uẩn ức;
Trời xanh hằng thấu nỗi oan khiên.
Mười ngàn buổi tri ân vẫn nhớ;
Ba chục năm tưởng niệm nào quên.

Tận suy:
Mộc xuất thiên chi do hữu bản; 
Thủy lưu vạn phái tổ tòng nguyên. (3)
Xưa thế tục long đong, nơi tạm bợ trăm sầu thao thức;
Nay quê trời nhàn nhã, chốn vĩnh hằng vạn phúc nghỉ yên.

Nguyện nâng đỡ giữ gìn tín đức;
Mong hộ phù ban phát ơn thiêng.
Tri ân cha khả ái!
Kính niệm đấng nhân hiền./.

Bùi Nghiệp
---------
(1) Khẩu hiệu giám mục của Đức cha: Nên mọi sự cho mọi người.
(2) Già còn mạnh sức, hùng tâm chưa hết; Tiết mạnh kiên trinh, chí mạnh càng bền.
(3)Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc;   Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.

24 tháng 3, 2018

CHA A-LỊCH-SƠN ĐẮC-LỘ




(Kính tưởng ngài Alexandre de Rhodes, Linh mục dòng Tên,
 nhà ngôn ngữ học, khai sinh chữ viết Việt nam hiện tại)

Dòng giống Việt Nam;
Cháu con Hồng Lạc.
Tri ân ngài uyên bác;
Kính tưởng bậc vĩ nhân.

Linh mục A-lịch-Sơn-Đắc- Lộ, khai sinh chữ viết nhà Nam;
Đại nhân dụng mẫu tự La-Tinh, mở lối văn từ đất Việt.
Tra cứu thanh âm cùng các vị: Ái Nhân- Phụng Nhã- Bửu sang (1), khổ công mới hình thành quán triệt;
Sắp bày dấu giọng khác nhiều nơi: Nhật bản- Cao ly- Trung quốc, cần mẫn mà tạo lập phi thường.
Yêu người quyết chẳng ngại biên cương;
Kính Chúa nên hằng yêu xứ sở.

Từ Pháp quốc hành trình cách trở;
Đến Việt Nam tiếp xúc gian nan.
Nghe âm thanh diễn tả líu lo, tựa chim hót hoà suối reo róc rách, cần duy trì bản chất nghìn năm ;
Thấy chữ viết tượng hình rắc rối, như bụi gai quấn rào dậu lùng bùng, phải thay đổi lối xưa thập kỷ.

Mài bút sắt từng đêm liên lỳ;
Vắt lòng son mỗi buổi trường kỳ.
Cậy Thiên ân soi sáng, ngọn bút huyền nắn nót chữ lưu ghi;
Xin Thánh ý độ trì, trang giấy trắng phơi bày câu tạc trữ.

Xuất từ điền: Việt-Bồ- La vạn chữ;
In huấn văn: Lời bài giảng tám ngày. (2)
Cả nước Nam bừng tỉnh, giật mình sau giấc ngủ khôn lay;
Toàn thế giới ngỡ ngàng, rúng động trước hiện tình bứt phá.


Ba thế kỷ vọt lên Châu Á;
Trăm vạn ngày đi trước Viễn Đông. (3)
Đưa dân tình quăng lối cũ lòng vòng ;
Dắt quốc thể bỏ tầm xưa lóng ngóng.

Do công sức thâm uyên khôn ví, cha Đắc Lộ Dòng Tên, ung dung khởi điểm hình thành  dựng móng;
Bởi nhận ra tuyệt diệu vô song, các sĩ phu nội quốc, hăm hở đầu tiên phát triển tô bồi.
Văn nhân Nam tu chỉnh không ngơi;
Trí thức Việt điểm trang chằng nghỉ .

Kìa sử xanh ghi, Gia Định báo (4) tiên phong cổ suý;
Đó tài liệu chép, Đông -Nam san (5) tiếp bước tháp tùng.
Cho hôm nay lửa sáng lan bùng;
Để mai hậu thanh quang tồn tại.

Đã chẳng thuận đường, xe vinh quang đầy âm mưu thọc gậy;
Lại không xuôi lối, ngựa huy hoàng lắm cản phá quàng chân.
Khối kẻ vong ân;
Nhiều tên bội nghĩa.

Uống thoả quên sông, lý sự mồm loa dã tâm độc địa;
Ăn xong đá bát, huyên hoang mép giải hung dạ xảo tà.
Lấy chiêu trò chính trị, phê phán xằng cửa miệng ba hoa;
Dùng sách lược tuyên truyền, âm mưu bậy đầu môi xấc xược.

Giá hoạ hiền nhân theo xâm lược;
Vu oan trí giả tiếp ngoại bang.
Không tường cớ sư, chính nhân nghiêng dạ giúp tha nhân;
Chẳng thấu căn cơ, quân tử chạnh lòng thương chiên lạc.

Với ánh sáng hằng phơi bày sự thật;
Cùng thời gian sẽ tỏ lộ điều ngay.
Khắp nước Nam có buổi hôm nay;
Cả nhà Việt được giờ hiện tại.

Nhớ công ơn vĩ đại;
Suy đức độ uyên thâm.
Dâng bạch lạp, tạ ơn ngài thượng trí thi ân;
Thắp trầm hương, ngưỡng mộ vị cao tâm đãi phúc.

Kính phục!
Tri ân!

Bùi Nghiệp
--- --- --- --- --- --- --- --- ---
Chú thích:
(1) Phiên âm tên các linh mục Thừa sai: Gaspar De Amaral (Ái nhân), Francisco De Pina (Phụng nhã) Antonio Barbosa (Bửu sang) tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.
(2) Từ điển Việt–Bồ–La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) là một cuốn từ điển bằng ba ngôn ngữ: Việt Nam–Bồ Đào Nha–Latinh do nhà truyền giáo và nhà ngôn ngữ học Dòng Tên Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) biên soạn và ấn hành tại Roma năm 1651. Việc ấn hành Từ điển Việt–Bồ–La và Phép giảng tám ngày đã ghi một dấu mốc quan trọng trong việc điển chế chữ Quốc ngữ.
(3) Tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.
(4) Gia định báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam do Petrus Trương Vĩnh Ký chủ biên.
(5) Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh và Nam Phong Tạp chí do Phạm Quỳnh chủ bút.



20 tháng 3, 2018

VĂN TẾ BẠN TRẦN NGHĨA HÙNG



(Khai Phá Phan-xi-cô Trần Nghĩa Hùng. Cựu SVSQ khóa 10B/72 trường HSQ Đồng Đế, từ trần 03.3.2018)

Anh Hùng;
Anh Trần Nghĩa Hùng!
Đến chốn ngàn trùng;
Về miền vĩnh phúc.

Từ Quý Tỵ sinh ký đất An Giang, mở mắt vui vào thế tục;
Qua Mậu Tuất tử quy miền Châu Đốc, xuôi tay lặng biệt nhân gian.
Thuở thơ ngây tụ họp nhà tràng,  mơ đường Khai phá, cùng bạn bè  giao hảo tri âm;
Khi niên thiếu quây quần chủng viện, mộng lối khẩn hoang, với bằng hữu kết tình huynh đệ.

Do chinh chiến đời trai không gặp thế;
Bởi đao binh vận nước chẳng phùng thời.
Thư sinh kỳ loạn lạc, xếp bút nghiên tiếc nuối tuổi đang tươi;
Kẻ sĩ buổi đao binh, cầm cung tiễn ngỡ ngàng xuân chưa chin.

Cùng tập hợp đến thao trường kiếp lính;
Lại xông pha đi trấn thủ đời trai.
Ba lô đeo nặng trĩu, với giầy saut tròng buộc gót miệt mài;
Poncho khoác nhẹ tênh, cùng áo trận mặc lên người rong ruổi.

 Một ngày:
Buông vũ khí chân trần lui lầm lũi
Nhận thương hồ tay trắng lại lao đao
Sôi nước mắt ngày ngày lo toan cơm áo, kiếp cùng cơ lắm lúc nghẹn ngào;
Đổ mồ hôi tháng tháng chạy vạy gạo tiền, đời vận rủi nhiều phen chật vật.

Thân nam tử vẫn cam tâm, dù long đong bước ngoặt;
Chí trượng phu hằng nhủ dạ, cứ lững thững đi lên.
Ấy: Mốc thời gian định đoạt do Thiên;
Là: Cung vận mệnh căn phần bởi Chúa.

Ôi!
Chát đắng nuốt niềm đau vây bủa;
Chua cay nhai nỗi khổ ụp đè.
Con tim nào chao đảo, hằng tín trung vẹn nghĩa phu thê;
Khối óc chẳng lung lay, vẫn kiên vững nguyên tình bầu bạn.

Nửa thế kỷ đâu quên thời dĩ vãng;
Năm mươi năm vẫn nhớ thuở xa xưa.
Dẫu xa xôi góc bể, lúc gặp nhau sảng khoái biết chi vừa;
Dù cách trở chân trời, khi tao ngộ hân hoan sao xiết kể.

Mà nay:
Tráng chí bán sinh lưu thủy thệ;
Anh hồn vạn lý liệt phong lai
. (*)
Người ra đi thanh thản thoát lưu đày;
Kẻ ở lại ngậm ngùi chưa phát vãng.

Sống lạc không gian, thân tráng sĩ làm ngây nín lặng;
Sinh lầm thế kỷ, trí anh hùng giả dại câm khờ.
Kiếp bèo mây lãng đãng vẩn vơ;
 Đời bọt sóng nổi chìm hư ảo.

Chúc bạn khởi hành, đi thẳng đến miền tương lai tuyệt hảo;
Mong anh phát xuất, bước nhanh vào đất vĩnh cửu nhiệm màu.
Thắp nến nguyện cầu;
Dâng hương tha thiết!

Tri âm ơi tống biệt;
Bằng hữu hỡi chia tay!

KP Bùi Nghiệp
----- ----  ----
(*) Tráng chí nửa đời theo nước chảy;
Hồn thiêng muôn dặm gió bay về.