Trang

24 tháng 10, 2013

ĐẠI NHÂN HÝ BÚT - NGUYỄN DU




代人戲筆
錯落人家珥水新,
居然別占一城春。
東西橋閣兼天起,
胡漢衣冠特地分。
苜蓿秋驕金勒馬,
葡萄春醉玉樓人。
年年自得繁華勝,
不管南溟幾度塵。

ĐẠI NHÂN HÝ BÚT
 Thác lạc nhân gia Nhĩ thuỷ tân
Cư nhiên biệt chiếm nhất thành xuân.
Đông tây kiều các kiêm thiên khởi,
Hồ Hán  y quan đặc địa phân.
Mục túc thu kiêu kim lặc mã,
Bồ đào xuân tuý ngọc lâu nhân.
Niên niên tự đắc phồn hoa thắng,
Bất quản Nam minh kỷ độ trần.
Nguyễn Du
Dịch nghĩa
Trên bãi sông Nhị, nhà cửa lô nhô,
Nghiễm nhiên chiếm cảnh xuân của cả một thành.
Phía đông và phía tây, cầu và nhà gác cao ngút trời.
Áo mũ chia hẳn người Hán với người Hồ.
Mùa thu, ngựa đeo giàm vàng kiêu hãnh ăn rau mục túc.
Ngày xuân, người trong lầu ngọc uống rượu bồ đào say mềm.
Tha hồ hưởng thú phồn hoa hết năm này đến năm khác,
Không quản bể Nam mấy phen nổi bụi.


THAY NGƯỜI KHÁC, VIẾT ĐÙA (Người dịch: Nguyễn Thạch Giang)

Nhà ai bến Nhị mọc lô nhô,
Chiếm cả bầu xuân hết một khu.
Tả hữu đôi bên cầu gác dựng,
Hán Hồ khác lối áo quần phô.
Giàm vàng ngựa kén mầm rau ngột,
Lầu ngọc người say thú rượu nho.
Cảnh đẹp năm năm riêng hưởng thú,
Mặc cho Nam hải bụi bay mù!

VIẾT CỢT THAY AI! (Phóng dệt Bongtaduong)
Bến Nhị dân nào đến thật đông
Ồn ào choán hết cả bờ sông
Đông tây hai phía cầu nhà dựng
Tàu Chệt đôi bên áo mũ thòng
Ngựa gặm cỏ thu vênh váo mặt
Người xơi rượu cúc hả hê lòng
Năm dài tháng rộng say nào tỉnh
Lốc bụi Nam kìa có biết không?

21 tháng 10, 2013

AN BANG PHONG THỔ - LÊ THÁNH TÔNG





安邦灃土
海上萬峰宭玉立,
星羅奇布翠崢嶸。
魚鹽如土民趍便,
鏵稻無田賦薄征。
波向山坪低處踊,
舟穿石壁隙中行。
邊氓久樂承平化,
四十余年不識兵。

AN BANG PHONG THỔ (*)
Hải thượng vạn phong quần ngọc lập,
Tinh la kỳ bố thuý tranh vanh.
Ngư diêm như thổ dân xu tiện,
Hoa đạo vô điền phú bạc chinh.
Ba hướng sơn bình đê xứ dũng,
Chu xuyên thạch bích khích trung hành.
Biên manh cửu lạc thừa bình hoá,
Tứ thập dư niên bất thức binh.
Dịch nghĩa
Muôn ngọn núi nổi trên mặt biển trông như những viên ngọc đẹp
La liệt như những vì sao, những quân cờ, chênh vênh một màu xanh biếc
Cá muối nhiều như đất, nhân dân đua theo nghề đó rất tiện lợi
Ruộng không cấy lúa cho nên thuế má nhẹ
Sóng dồn về phía thấp của vách núi mà nhảy vọt lên
Thuyền luồn trong rạch dài giữa hai vách đá mà đi
Nhân dân ở biên giới, từ lâu vui huởng thái bình
Hơn bốn mươi năm không hề biết sự binh đao

(*)An Bang là tên lộ thời Hồng Đức, nay là vùng Quảng Ninh.

 MIỀN ĐẤT AN BANG (Phóng dệt Bongtaduong)


Chuỗi ngọc bồng bềnh giữa biển Đông
Tựa như sao biếc xếp ngay chồng
Biền đầy muối – cá, sưu nào có
Đất vắng cày- bừa, thuế cũng không
Sóng vỗ ghềnh non tung ngược bọt
Thuyền băng khe lạch lướt xuôi dòng
Biên thùy phẳng lặng dân sung túc
Bốn chục năm rồi hưởng thái phong

19 tháng 10, 2013

U CƯ kỳ II - NGUYỄN DU






幽居其二
十載風塵去國賒,
蕭蕭白髮寄人家。
長途日暮新遊少,
一室春寒舊病多。
壞壁月明蟠蜥蜴,
荒池水涸出蝦蟆。
行人莫誦登樓賦,
強半春光在海涯。
阮攸

Phiên âm Hán Việt
Thập tải phong trần khứ quốc xa,
Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia.
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu,
Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa.
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch,
Hoang trì thủy hạc xuất hà ma.
Hành nhân mạc tụng Đăng lâu phú,
Cưỡng bán xuân quang tại hải nha (nhai).

Dịch nghĩa
Bỏ quê hương đi suốt mười năm trong gió bụi,
Đầu bạc lốm đốm, còn phải ăn nhờ ở đậu,
Cảnh hiện nay của ta là cảnh đường đi còn dài mà trời đã về chiều, lại không tìm ra bạn mới!
Giữa mùa xuân, nhà lạnh ngắt, bệnh cũ tái phát.
Dưới ánh trăng, thạch sùng leo trên vách nát.
Chiếc ao hoang, nước cạn khô, chỉ còn thấy ếch nhái.
Ai xa quê hương chớ đọc bài phú Đăng lâu.
Quá nửa đời người, ta còn ở nơi chân trời góc biển.

Ở nơi u tịch kỳ 2 (Người dịch: Nguyễn Thạch Giang)
Gió bụi mười năm biệt cố hương
Bơ phờ đầu bạc, đất người nương
Bệnh nhiều, xuân lạnh, nhà đơn chiếc
Bạn ít, chiều sang, bước dặm trường.
Trăng sáng, thạch sùng leo vách nát,
Nước khô, ếch nhái nhảy đầm hoang.
Khách đường chớ đọc Đăng lâu phú
Quá nửa đời người giạt một phương.

CĂN NHÀ U TỊCH 2 (Phóng dệt: Bongtaduong)

Tha hương viễn xứ thoắt mười năm
Ở đậu ăn nhờ tóc đã râm
Chiều hạ đường đơn bằng hữu thiếu
Đêm xuân nhà vắng bệnh tình tăng
Thạch sùng vách bám trăng soi rọi
Ếch nhái ao trườn nước sủi tăm
Bài phú Đăng lâu đừng xướng nữa
Nửa đời góc bể vẫn xa xăm

17 tháng 10, 2013

U CƯ - NGUYỄN DU




幽居

桃花桃葉落紛紛
門掩斜扉一院貧
住久頓忘身是客
年深更覺老隨身
異鄉養拙初防俗
亂世全生久畏人
流落白頭成底事
西風吹倒小烏巾
阮攸

Phiên âm Hán Việt
Đào hoa, đào diệp lạc phân phân,
Môn yểm tà phi nhất viện bần.
Trú cửu đốn vong thân thị khách,
Niêm thâm cánh giác lão tùy thân.
Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục,
Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân.
Lưu lạc bạch đầu thành để sự,
Tây phong xuy đảo tiểu ô cân.

Dịch nghĩa
Hoa đào, lá đào rụng lả tả.
Cánh cổng xiêu vẹo, mái nhà bần bạc.
Trú ngụ ở đây lâu ngày, quên bẵng mình là khách,
Trải qua nhiều năm tháng, biết tuổi già đã đến rồi!
Ở nơi đất khách quê người, đành giả vụng, đề phòng động đến kẻ tục,
Sống buổi loạn lạc, muốn giữ toàn tính mệnh, thấy ai cũng sợ.
Xiêu giạt đến bạc đầu mà nào được việc gì đâu!
Ngọn gió tây thổi rơi chiếc khăn đen nhỏ!

U cư - Quách Tấn dịch (Tố Như thi, An Tiên tái bản, France, 1995)
Đào rụng đầy sân lá tiếp hoa,
Một gian lều nát khép lơ là.
Trọ lâu quên bẵng thân là khách,
Tới mãi thành quen tuổi cõng già.
Thời loạn nể người mong sống trọn,
Thói đời giả vụng chút phòng xa.
Nổi chìm tóc bạc chưa nên việc,
Thổi bật khăn đầu trận gió qua.

CĂN NHÀ U TỊCH (Phóng dệt: Bongtaduong)

Hoa lá đào rơi rụng trước sân
Cổng xiêu nhà dột vách bung dần
Khách mời ngày chóng còn bao hạ
Lão ngụ năm chày hết mấy xuân
Đất khách vụng về nên ngượng ngập
Quê người giữ ý hóa phân vân
Bạc đầu phiêu dạt buồn danh phận
Ngọn gió tây về thổi rớt khăn