Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn THI LUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THI LUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

26 tháng 2, 2015

LAI RAI PHÂN TÍCH THƠ ĐƯỜNG



Dường như mấy năm gần đây, phong trào làm thơ Đường luật có vẻ trở nên sôi nổi, người già rỉ rả đã đành mà lớp trẻ cũng hăng hái lên gân, ngọn gió ngôn từ thổi về mát rượi thi đàn, các trang web cộng đồng, các trang blog cá nhân trăm hoa đua nở, rõ là một tín hiệu vui, trau chuốt phong phú ngôn ngữ nước nhà, độc đáo bổng trầm 5 dấu giọng.
Thơ Đưởng luật xuất phát từ Trung quốc, Nguyễn Thuyên người Việt nam, là tiến sĩ Thuợng thư nhà Trần, đã đưa áng thi bất hủ này vào phát triển, vua Trần ví ông như Hàn Dũ qua tâm đắc bài Văn tế cá sấu, bèn đổi họ ông từ Nguyễn sang Hàn, nên đời sau luôn gọi ông là Hàn Thuyên, và thơ Đường luật gọi là Hàn luật. Gần một ngàn năm qua đến thời đại nay, ngôn ngữ Trung quốc có nhiều cải tổ, thể loại này xem ra không còn phù hợp, áng Đường thi vô hình mặc nhiên tàn lụi, ngược lại phát triển phì nhiêu lan tỏa trên đất nước Việt Nam, do ngôn ngữ độc âm phù hợp.
Chỉ với 56 chữ gói toàn nội dung bài thơ thất ngôn bát cú, mà tóm gọn trọn vẹn bài thơ, ví như bàn cờ tướng, với 64 ô chia 2, nhưng bày binh bố trận giao tranh lưỡng quốc, tướng sĩ binh lực chiến thuật tiến thủ quy mô, vận dụng trí não người điều binh khiển tướng kỳ tài… Đường thi thất ngôn bát cú cũng vậy!
Với 8 câu 7 chữ phải cô gọn súc tích, phân loại rồi kết hợp ra vần điệu, nhạc tính, niêm luật hẳn hoi, bố cục ràng buộc khắt khe, mới giãi bày được ngôn phong tinh túy rộng kèm sâu, quả nhiên không phải chuyện đùa, cứ nhập cuộc rồi mới biết thế nào là công phu diệu thủ.
1.     THI LUẬT
Đây là công thức giàn quân ra trận, lão không đề cập tới nữa, vì ai đã nhập cuộc thể loại này, hằn nhiên đều biết, nói ra chỉ thừa, cái thức bằng trắc ai ai cũng hiểu, vậy nên thông qua không nhắc lại, luật chuyển động, niêm kết hợp, sắp đặt vận quy mô… Mà sao viết xong, cảm thấy đúng mà đọc lên nó cứ làm sảo làm sao?… Ấy vì do tiết nhịp và nhạc tính còn chưa ổn định.lại mắc lỗi vì vướng bẫy gài sẵn, vô tình dính chấu như chơi.
2.     NHẤT TAM NGŨ BẤT LUẬN.
A ha! Cái bẫy chờ đó, chứ không phải thong dong xả láng đâu, sách nói: chữ 1, 3 và 5, có thể liến phiến bằng trắc thế nào cũng được, không quy bắt lỗi, hổng dám đâu! Lão nói nó là cạm bẫy đó, vì chỉ duy có chữ 1 là được tự ý thôi, còn 3 và 5 thì liệu mà bước, mìn đang gài chờ sẵn, nhào vô ắt lãnh thẹo sụp hầm.
Này nhé, trong chữ 3 các câu chẵn 2,4,6,8 mà đáng bằng ta viết ra trắc là mắc bẫy khổ độc (khó đọc) liền.
Rồi chữ thứ 5 các câu lẻ 1, 3, 5, 7 đáng bằng viết ra trắc cũng mắc bẫy khổ độc như trên.
Như vậy câu nhất tam ngũ bất luận chỉ chấp nhận cho đúng có nột nửa, nên  phải dè chừng cẩn thận, đừng có búa xua mà lãnh thẻ vàng.
3.     PHONG YÊU HẠC TẤT.
Món này tuy không lỗi luật, nhưng lại là thi bệnh, người làm thơ hay bị vướng, nó dính vào quy luật chuyển động âm thanh cao độ của vần bằng.
Phong yêu (cái lưng con ong), là chữ thứ 2 dấu huyền thì chữ thứ 7 phài là không dấu, hoặc ngược lại.
Hạc tất (cái đầu gối con chim hạc), là chữ thứ 4 dấu huyền thì chữ thứ 7 phài là không dấu, hoặc ngược lại.
Sách nói nó là cái bệnh nhẹ ngoài da, có thể hóa giải dễ dàng, một là sửa lại cho khác dấu, hai là chữ đứng trước nó có dấu ngược lại, là tự nhiên hóa giải xí xóa được ngay, cầm bằng cố chấp ương ngạnh để vậy, sẽ bị lườm nguýt, liếc xéo chê bai.
4.     THỰC VÀ LUẬN
Cái này gay à nha! Thơ là tinh hoa của ngôn ngữ, nhưng 2 câu đối thực và luận mới chính là tinh hoa của tinh hoa, bài thơ đánh giá hay dở, phần lớn do 2 câu này, nó gọi là đối Đường luật đấy.
Đối là vế trước đề ra vế sau phải tuân thủ ngược lại về vận, nhưng ngữ pháp văn phạm lại phải giống nhau, về ý mới là căng, được chia làm nhiều dạng tùy nghi, như đối chính vận, bàng vận, nghịch vận, lưu thủy… nhiều sách đã đề cập đến phép đối này nguyên cả quyển, phức tạp nhiêu khê.
Nhiều bài thơ xem là hay, nhưng không đối, hoặc đối không đạt, hoặc đối đạt hình thức mà ý nghĩa gò ép ngô nghê, làm giảm nhiều cái giá trị tuyệt cú của nó, thật đáng tiếc.
Ý của thực phải đi trước và luận nương theo sau, nhiều vị không lưu tâm cảnh giác, nên bị “chỏng ngược đuôi ” là vậy.

5.     ĐIỆP TỪ
Chỉ có 56 chữ không nhiều nhặn, nên tuyệt đối không được trùng một chữ nào, trừ khi cố ý lặp lại chữ đó có chủ trương.
6.     ĐIỆP VẬN
Đã chọn 5 vần có âm giống nhau là chủ đế gieo, thì trong bài không được dùng vần nào dính với âm đó. Lại nữa, ngoài vần được chọn để gieo, trong 1 câu và cả câu liên kế, cũng không được có chữ nào khác trùng vận, bất kể bằng trắc.
Lão chưa đồng ý mấy về lời dặn này trong các từ kép, sách nói là sự lặp lại giống như cà lăm lắp bắp, nhưng theo cụ học giả Bùi Kỷ, khá nhiều chữ loại này nó gợi lên sự tượng hình làm dịu đi cái sắc thái ( xanh xanh, vàng vàng, tim tím, mờ mờ…) hoặc tăng nhấn thêm sự việc (chăm chăm, chú chú, cặm cặm…) Hay đấy chứ? Sao dám đe loi cấm đoán bảo là lắp bắp! Rõ dở hơi!
7.     PHẠM ĐỀ (mạ đề)
Tiếng còi cảnh báo này hầu như chả bố tướng nào lưu tâm, vờ vịt cho qua,  mà nó cũng liệt vào sái luật chơi, đó là tên bài. Tên đầu bài có chữ nào, tuyệt nhiên trong 2 câu thực và luận không được dùng chữ đó nữa, hễ dùng nó bị đánh rớt oan uổng rán chịu.
8.     TIẾT NHỊP
Ấy cái món phân câu chiết cú, nó tạo nên trường độ diễn tả, quy định tiết nhịp chuyển động trong thất ngôn bát cú từng câu là 2-2-3, nếu khác đi sẽ bị chông chênh, nên trong khi viết cũng nên quan tâm về sự này, tuy nhiên giống như trong âm nhạc, những thế đảo phách (syncõpe) có thể xen vào để tăng thêm ý vị,nên nhớ phải rất hạn chế không đuợc lạm dụng.
9.     THẺ ĐỎ.
Ba điều đại kỵ không chấp nhận được khi ra sân:
-Thất luật: công thức luật chơi đã công bố, vi phạm luật ăn thẻ đỏ ngay.
-Thất niêm: quy dịnh từng cặp đội hình, 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 phải dán dính, niêm sai mời ra khỏi sân hếtcãi.
-Thất vận: quy luật gieo vận chỉ có 2 dạng, chính vận và bàng vận, chính vận thì tốt, bàng vận thì có thể chấp nhận.tơ lơ mơ không tuân thủ vận, chớ trách trọng tài cú vọ hắc ám.
* TÚM LẠI:
Nhập cuộc chơi Đường thi, phải “sạch nuớc cản”, biết rõ và tuân thủ, không ai bắt bạn phải a vào, bạn có thể viết loại thơ khác dể dàng hơn, tha hồ mà tung hoành thao túng, nhưng nếu vào sân chơi rồi, mới khám phá ra cái ngôn ngữ diệu kỳ của tổ tiên, độc âm nhưng vô cùng phong phú, chớ xem thường một anh không bằng cấptàng tàng, mà chú mục  làm thơ nhuần nhuyễn đến độ thâm hậu, lão đố các thầy cô giáo vỗ ngực, các bậc có học vị cao tít tắp xưng tên, xin nói rằng:  chưa chắc mèo nào xực mèo nào.

“Văn ta vợ người”! Cái câu thành ngữ tưởng tiếu lâm mà gẫm ra đúng thật, văn phong mình viết như hạch, lại gật gù tâm đắc, vợ người ngoài nhan sắc tựa dạ xoa, cứ cắc củm khen vẩu môi. Cái bệnh cố chấp tự bào chữa, chữ nghĩa biết trật không sửa, viện cớ chữ này đắc ý tuy chưa hợp lệ nhưng cứ để vậy, là tự mình làm hỏng tác phẩm, nên nhớ ngôn ngữ ta rất nhiều từ thay thế, chẳng qua vốn liếng ngôn phong mình vẫn chưa giầu…
Bài viết này lão cắt khúc đầu phần nhập môn, chỉ dành cho cao thủ thượng đài, đã từng trầy vi tróc vảy, đã điên đầu vi chiêu thức lùng bùng rắc rối, mục đích để nâng cấp tay nghề, đương nhiên không phù hợp với các tập sinh mới tầm sư học đạo, ai ưỡn ngực tự phụ vài tháng là êm ngón này, lão dám cược là tay đó chỉ phét rống đại ngôn…
Ngày xuân thư thả, lai rai đàm luận một chút cho rậm đám xôm tụ, ai ưng thì xem, xem xong rồi tùy nghi ngẫm ngợi!


Bongtaduong

12 tháng 4, 2013

Các thi bệnh trong thơ Đường Luật.




Thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường luật nổi tiếng với niêm luật chặt chẽ và mức độ khó khi làm một bài thơ hoàn chỉnh . Sau đây , tôi xin phép viết lại một số tài liệu mà tôi đã sưu tầm được để các bạn yêu thích thể loại thơ này có thêm nhiều kiến thức về nó.
Tám bệnh danh thường gặp của Thất Ngôn Luật Thi là:
1. Bệnh Bình Đầu
2. Bệnh Thượng Vỹ
3. Bệnh Phong Yêu
4. Bệnh Hạc Tất
5. Bệnh Đại Vận
6. Bệnh Tiểu Vận
7. Bệnh Bàng Nữu
8. Bệnh Chánh Nữu
1. Bình đầu:
Bài thơ mà có nhiều câu liên tiếp bắt đầu bằng những tiếng cùng một từ loại, cùng một cấu trúc câu thì phạm lỗi bình đầu, ngoại trừ trường hợp cố tình làm có mục đích rõ rệt.
2. Thượng Vỹ:
Trong bài thơ ĐL TNBC nếu chữ thứ 5, 6, 7 của nhiều câu liên tiếp (nhiều hơn 3) cùng từ loại và cấu trúc thì bài thơ phạm lỗi thượng vỹ.
3. Phong Yêu (Lưng Ong):
Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 2 trong cùng câu thì gọi là lỗi phong yêu.
4. Hạc Tất (Gối Hạc):
- Bệnh này sinh ra do chữ thứ 4 và chữ thứ 7 trùng thanh độ ở những câu vần . Một số tác giả khó sẽ bắt lỗi ngay cả ở câu không vần.
- Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 4 trong cùng câu thì gọi là lỗi hạc tất.
5. Đại Vận:
- Bệnh này sinh ra do chữ thứ 4 và chữ thứ 7 trùng vận . Nhất là ở những câu luật trắc vần bằng.
Bài thơ ĐL chỉ gieo vần ở các chữ cuối câu. Nếu chữ thứ 4 trong câu cũng vần với chữ cuối câu thì phạm lỗi đại vận.
6. Tiểu Vận:
- Bệnh này sinh ra do chữ thứ 2 và chữ thứ 6 hoặc 7 trùng vận. Nhất là ở những câu luật trắc vần bằng.
Nếu chữ thứ 2 trong câu vần với chữ thứ 6 hoặc thứ 7 thì phạm lỗi tiểu vận.
7. Chánh Nữu:
- Bệnh này sinh ra do trong một câu có nhiều chữ cùng 1 âm.
- Nếu các chữ có cùng phụ âm đầu hoặc bắt đầu bằng nguyên âm nằm gần nhau trên hai câu liên tiếp thì phạm lỗi bàng nữu.
8. Bàng Nữu:
- Bệnh này sinh ra do trong hai câu liên tiếp có nhiều chữ cùng 1 âm.
- Trong một câu, có nhiều hơn hai chữ; có cùng phụ âm đầu (hoặc bắt đầu bằng nguyên âm, không có phụ âm đầu) thì phạm lỗi chánh nữu.
Ngoài ra còn các bệnh, lỗi khác:
1. Lạc vận:
- Trong 5 vần mà có một vần khác xen vào.
- Vần là yếu tố quan trọng để tạo nhạc cho thơ. Do đó cần phải tránh gieo vần cưỡng ép hay lạc vận.
2. Lạc đề:
- Trong bài thơ mà cặp Trạng và cặp Luận không diễn đúng đề bài thì gọi là lạc đề.
3. Thất niêm, thất luật:
- Thất Luật:
- Có một vài chữ trong bài thơ không đúng luật Bằng Trắc.
- Những từ đáng Bằng mà làm ra Trắc hoặc đáng Trắc mà làm ra Bằng.
-Thất niêm:
Muốn xét một bài thơ có thất niêm hay không thì nhìn chữ thứ 2:
- Chữ thứ 2 câu 2 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 3
- Chữ thứ 2 câu 4 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 5
- Chữ thứ 2 câu 6 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 7
- Chữ thứ 2 câu 8 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 1
4. Thất đối:
- Trong một bài thơ thất ngôn bát cú , hai câu thực (câu 3 đối câu 4), hai câu luận (câu 5 đối câu 6).
- Đối chiếm địa vị quan trọng trong thơ ĐL. Bỏ đối đi thì không còn được gọi là thơ ĐL nữa.
5. Khổ độc:
- Trong một bài thất ngôn, chữ thứ ba các câu vần, và chữ thứ năm các câu lẻ đáng là từ bằng mà đổi ra trắc
- Trong một bài ngũ ngôn, chữ thứ nhất các câu vần và chữ thứ ba các câu lẻ đáng là bằng mà đổi ra trắc.
- Chữ thứ 3 của các câu chẵn và chữ thứ 5 của các câu lẻ nếu đang bằng mà đổi thành trắc thì sẽ là khổ độc.
- Chữ thứ 3 của các câu chẵn nếu là trắc mà viết bằng thì không sao
- Chữ thứ 3 của các câu lẻ nếu là bằng mà đổi thành trắc thì sẽ là khổ độc
- Chữ thứ 5 của các câu chẵn nếu là trắc mà đổi thành bằng thì sẽ là khổ độc.
6. Điệp thanh:
- Trong một câu, nếu có nhiều chữ cùng một thanh thì bị lỗi điệp thanh.
- Trong thơ thất ngôn, một câu có 4 tiếng bằng và 3 tiếng trắc hoặc bốn tiếng trắc và ba tiếng bằng. Những tiếng bằng hay trắc đó phải có thanh độ khác nhau thì câu thơ mới giàu âm điệu.
7. Điệp điệu:
Điệp điệu là khi nhiều câu liên tiếp ngắt nhịp cùng một cách. Lỗi này thường hay xảy ra ở các câu giữa của bài thơ.
8. Điệp âm:
Điệp âm là những chữ có cùng âm đứng gần nhau trong một câu hoặc cùng vị trí trong hai câu.
9. Trùng vận:
Thơ ĐL chỉ dùng đơn vận, nếu cùng một chữ vần được dùng lặp lại ở hai câu khác nhau thì gọi là trùng vận, bài thơ sẽ hỏng.
Theo thi luật chính thức, nếu chỉ là tiếng đồng âm mà khác nghĩa thì được coi là 2 chữ vần khác nhau và không phạm lỗi. Tuy nhiên, để tránh nghe đọc trùng lặp âm vận không hay, trong bài thơ không nên để hai vần đồng âm gần nhau.
10. Trùng từ:
Cùng một chữ được dùng nhiều lần ở trong bài thơ, ngoại trừ trường hợp cố ý, thì gọi là lỗi trùng từ hay điệp từ.
11. Trùng ý (Hiệp Chưởng):
Trong bài thơ ĐL nếu có câu chữ nào lặp lại ý của các câu chữ đã dùng mặc dù dùng từ khác đi thì cũng bị lỗi trùng ý. Nếu lỗi trùng ý nằm trong hai câu thực, hoặc hai câu luận thì gọi là Hiệp Chưởng (câu trên câu dưới đối nhau mà ý nghĩa giống nhau như hai bàn tay úp lại).
12. Phạm đề/Mạ đề:
Trong hai cặp thực và luận không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của đề lọt vào thì bị lỗi phạm đề hay mạ đề.

10 tháng 4, 2013

Thơ Mới Trong Nền Văn Học Việt Nam






HÀ ĐÌNH HUY

Thơ cũ lẫn thơ mới đều có những giá trị nhất định của nó. Vậy thơ Mới là lọai thơ như thế nào? Thơ Mới xuất xứ từ đâu? Cách cấu trúc hình thức và nội dung như thế nào? Thơ Mới ảnh hưởng ra sao đối với nền văn học nước ta trong thời gian vừa qua và kể cả trong tương lai? Thiết tưởng chúng ta nên tìm hiểu một cách khách quan vai trò của thơ Mới hầu rút ra một ý niệm thực tiễn thẩm định vị trí thiết thực nó trong nền văn học nước nhà và trong đời sống của chúng ta.

I. NGUYÊN CĂN CỦA THƠ MỚI:

Có nhiều vị học giả hoặc những giáo sư dạy môn việt văn trong các trường trung và đại học nước ta cho rằng: thơ Mới bắt đầu xuất hiện từ khi cụ Phan Khôi “trình chánh giữa làng thơ” bài thơ Mới đầu tiên “Tình Già” đăng trên báo Phụ Nữ Tân số 122 ngày 10 tháng 3 năm 1932. Và để từ đó lại bùng nổ lên một phong trào chống đối thơ Mới của nhóm thủ cựu.

Thực tế thơ Mới xuất hiện không phải từ cái mốc 1932 , và lại càng không phải bài thơ “ Tình Già “ của Phan Khôi là bài Thơ Mới đầu tiên được trình làng công khai trên các văn đàn.

Sự thật thơ Mới đã du nhập vào nước ta, từ khi chữ quốc ngữ đang trên đà cũng cố đến phát triển do phát nguyên từ lối thơ của người Pháp. Các nhà làm thơ của ta thấy rằng thơ của Pháp trừ mấy lối định thể (pòemes à forme fixes) như sonnet, ballade, rondeaux là đã ấn định sẵn số câu và cách hiệp vần không có hạn định số câu, số chữ không có niêm luật, không theo phép đối và nhiều cách gieo vần, nên cũng muốn đem các thể rộng rãi ấy ứng dụng vào trong thơ ta. Mầm mống lối Thơ Mới đầu tiên, là bản dịch bài thơ ngụ ngôn “Con ve sầu và Con Kiến” của La Fontaine của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh đăng ở Đông Dương Tạp Chí số 40 năm 1914. Bản dịch không theo thể cách của các lối thơ cũ đã có lâu đời trong nước ta và lại không có niêm luật hoặc đối như thơ Đường Luật.

Nguyên bản dịch đó như sau:

“Ve sầu kêu ve ve
Suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi;
Nguồn cơn thực bối rối
Một miếng cũng chẳng còn,
Ruồi bọ không một con;
Vác miệng chịu khúm núm,
Sang chị kiến hàng xóm,
Xin cùng chị cho vay,
Răm ba hạt qua ngày,
“Từ nay sang tháng hạ,
Em lại xin đem trả,
Trước thu, thề Đất Trời!
Xin đủ cả vốn lời.”
Tính kiến ghét vay cậy,
Trăm thói, thói này vì,
“Nắng ráo chú làm gì?”
Kiến hỏi ve như vậy,
Ve rằng : “Luôn đêm ngày,
Tôi hát, thiệt gì bác”
Kiến rằng: “Xưa chú hát?
Nay thử múa coi đây.”
(Nguyễn Văn Vĩnh)

Qua phần trên cho chúng ta khẳng định về lai lịch của lối thơ Mới, và có thể nói rằng bản dịch bài thơ Ngụ Ngôn “ Con ve sầu và con Kiến” của nhà thơ Pháp La Fontaine như là một khởi đầu của phong trào thơ Mới trong nền văn học của nước ta. Và cụ Phan Khôi chỉ là khởi xướng lại vấn đề thơ Mới đã có trước. Kế đó các báo chí, nhất là tờ Phong Hóa Tuần Báo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn đứng đầu là nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, thường đăng những bài thơ Mới của nhóm tân học như các thi sĩ Thế Lữ, Xuân Diệu,Tế Hanh, Huy Cận, …cổ võ cho phong trào thơ Mới, thì thơ Mới bắt đầu thành lập và thịnh hành.

Tuy thơ Mới đã có trước, và cụ Phan Khôi không phải là người khai sáng thể chế thơ Mới, cụ chỉ xướng lại thể cách thơ qua bài thơ “Tình Già”, nhưng các nhà nghiên cứu văn học vẫn xem bài thơ “Tình Già” của cụ Phan Khôi như là một biểu tượng của sự mở đường cho phong trào thơ Mới ngự trị trong nền văn học sử nước ta.

“Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Đôi cái đầu xanh, kề nhau than thở”
“Ôi! Đôi ta tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn đà không đặng;
“Để đến nỗi tình trước phụ sau,
“Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”

(Phan Khôi)

II SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THƠ MỚI VÀ THƠ CŨ:

Thơ giống nhau vì có vần, điệu, số câu, số chữ,… Nhưng thơ vẫn có những điểm khác rất đặc biệt. Thơ cũ đại để là lối thơ Đường Luật có những lệ chặt chẽ về số câu, số chữ cách gieo vần bằng trắc và phép đối, niêm luật thật gò bó, khắc khe, đến nỗi các nho sĩ chuyên làm thơ Đường cũng lắm khi than rằng khó quá vì luật lệ nghiêm khắc có hại cho thi hứng, khiến tình ý khó diễn đạt. Cho nên các nhà thơ muốn phá bỏ các luật lệ nghiêm ngặt ấy để tự do diễn đạt tình ý.

Thơ Mới là một lối thơ không giới hạn số câu, số chữ, niêm, luật hay đối chỉ cần có vần và điệu mà thôi.

Tỉ dụ trong bài thơ Đường Luật Thất ngôn bát cú “Tôn Phu Nhân Qui Thục” của Tôn Thọ Tường.

“Cật Ngựa Thanh gươm vẹn chữ tòng;
Ngàn thu rạng tiết gái Giang đông,
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán trau tria mảnh má hồng,
So phấn thà cam dày gió bụi;
Đá vàng chi để thẹn non sông,
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn;
Thà mất lòng anh được bụng chồng.

Số câu bài thơ Đường trên, bắt buộc phải là 8 và số chữ phải 7 chữ. Số câu không thể là 9, 10 hay11,… , và số chữ không thể là 8 hoặc ít hơn khi liên hành trong 8 câu. Ngoài ra còn ràng buộc bởi niêm, luật và đối thật là nhiêu khê. Một điểm đáng lưu ý trong bài thơ Đường cần phải theo cách bố cục nhất định. Câu số 1 phải là câu Phá đề, câu số hai phải là Thừa đề. Câu 3 và 4 là hai câu Thực hoặc Trạng. Câu 5 và 6 phải là Luận và cuối cùng là 2 câu 7 và 8 phải là Kết.

Với lối thơ Mới, thật đơn giản, chỉ cần có vần và điệu người làm thơ sẽ có được một bài thơ , với số câu dài, ngắn bao nhiêu cũng được và số chữ không giới hạn. (Cũng cần chú ý điểm này: Thơ Mới về thể cách phải thật khác thơ cũ. Chứ không thể gọi những bài thơ vẫn được mệnh danh là “thơ Mới”, nhưng không đáng gọi tên ấy, những bài ấy chỉ làm theo lối thơ đã có từ trước nhưng không phải là Đường Luật).

Trong bài thơ “Sương rơi” của Nguyễn Vỹ dưới đây, cho ta thấy sự khác biệt hẳn giữa thơ cũ và thơ mới về số câu cũng như số chữ …

“Sương rơi,
Nặng Trĩu,
Trên cành dương liễu,
Nhưng hơi
Gió bấc,
Thấm vào,
Em ơi
Hạt sương, thành một vết thương.
(Nguyễn Vỹ)

III THỂ CÁCH CỦA THƠ MỚI:

Muốn xét về thể cách của thơ Mới, người ta thường xét đến số câu và số chữ trong bài và trong khổ. Đôi thi nhân cũng phải để ý đến điệu (air)

A. Số câu:

Trong thơ Mới số câu trong bài không nhất định. Có khi đặt các câu liên tiếp nhau từ đầu đến cuối, có khi chia các câu trong bài thành nhiều khổ. Số câu trong khổ cũng không nhất định: hoặc 4 câu hoặc 6 câu, hoặc 8 câu, cũng có khi các khổ trong một bài thơ có số câu khác nhau.

Những bài thơ sau đây tiêu biểu cho số câu nhất định trong một khổ.

1. Lọai 4 câu trong 1 khổ:

“Tiếng ve ran trong bóng cây rậm mát
Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời,
Gió nồng reo trên hồ sen rào rạt,
Mùa xuân còn, hết? Khách đa tình ơi!”
(Hồn Xuân)/Thế Lữ

2. Lọai 6 câu trong 1 khổ:

“Lòng nao nức như hương trầm mới dậy:
Gió tâm tư say chúi nửa lừng mơ...
Đêm kim sa hay sao mà run rẩy?
Không khí men, trăng liễu mướt đường tơ.
Đây một đóa đồ mi, ta đón lấy,
Ấp hồn hoa... đem giặt giữa bài thơ.”
(Đồ Mi Hoa)/ Bích Khê

3. Lọai 8 câu trong 1 khổ:

“Khi trời biếc bị mây tối phủ che
Ta ôm đàn, lẳng lặng lắng tai nghe,
Trên trời đen nghịt vang long sấm động;
Chớp nhoáng xé mây. Rừng ầm ĩ rống.
Gió điên cuồng gọi sóng sấn lên bờ,
Dưới ánh trăng mờ,
Mặc cho sét nổ.
Người trên cao, ôi mặt trời! Nhạo cơn giông tố.”
(Cùng Mặt Trời)/Huy Thông

B. Số chữ:

Số chữ trong câu của một bài thơ mới không nhất định. Ngắn có thể là hai chữ và dài có thể đến 12 chữ hoặc hơn.

Chữ trong câu của một bài thơ mới tạo nên: câu dài ngắn khác nhau sắp đặt không theo thứ tự, như trong bài “Tiếng Trúc Tuyệt Vời” của Thế Lữ.

“Tiếng địch thổi đâu đây,
Cớ sao nghe réo rắt?
Lơ Lửng cao đưa tận long trời xanh ngắt.
Mây bay…gió quyến, mây bay…
Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt,
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may,”
(Thế Lữ)

Có bài các khổ đều đặt những câu dài ngắn giống nhau như bài “Cùng Mặt Trời“ của Huy Thông ở phần trên. Khổ nào cũng đặt những câu 8+8+8+8+8+4+4+10 chữ.

Nhưng về sau này, khi thơ Mới tương đối thịnh hành, đa số các thi nhân đều viết thơ Mới theo lối câu và số chữ nhất định. Lối câu 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, 10 chữ và khi cả bài dùng một lối câu nhưng xen vào một ít câu ngắn hoặc dài hơn.

Các bài thơ sau đây tiêu biểu cho các lối chữ:

a) Lối 5 chữ.
“Em không nghe mùa thu,
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực,
Hình ảnh kẻ chinh phu

Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc:
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

(Mùa thu)/Lưu Trọng Lư

b) Lối câu 7 chữ.
Dù đường trần khe khắt hiểm nghèo,
Dù gập ghềnh, dù lắm hùm beo,
Cứ quả quyết đường hòang ta tiến;
Đời thảm đạm, ta càng vinh hiển!
(Sống)/Huy Thông

c) Lối câu 8 chữ.

“ Tiếng ve ran trong bóng cây rậm mát
Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời,
Gió nồng reo trên hồ sen rào rạt,
Mùa xuân còn, hết? Khách đa tình ơi!”
(Hồn Xuân)/Thế Lữ

d) Lối câu 10 chữ.

“Chiều thu. Sau rặng tre xa, mặt trời khuất bóng,
Aùnh vàng còn rải rác trên cánh đồng xanh rộng,
Đám mây chiều trắng xám đã nổi ở chân trời,
Từ xa lại gió thu làm man mác lòng người.”

(Trên đường về)/Nguyễn Văn Kiện:

Trường hợp cả bài dùng một lối câu nhưng xen một số câu ngắn hoặc dài. Tiêu biểu cho trường hợp này là đọan thơ trong bài “Nhớ Rừng” của Thế Lữ sau đây:

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan;
Đâu những ngày mưa chuyển động bốn phương ngàn.
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những buổi bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tong bừng?
Đâu những buổi chiều lênh láng máu sau rừng,
Ta đợi tắt mảnh mặt trời gay gắt?
Để chiếm lấy phần tối tăm bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Tuy không chịu ảnh hưởng âm luật , như thơ Đường, nhưng thơ Mới vẫn chịu một số luật lệ về vần và điệu. Thơ Mới phỏng theo cách hiệp vần của thơ Pháp:

1.Vần liên tiếp:

Nghĩa là vần được gieo theo hai vần bằng , rồi đến hai vần trắc và ngược lại. Bài thơ “Trên Đường Về” của Nguyễn Văn Kiện ở phần trên tiêu biểu lối hiệp vần này. Hai chữ bóng và rộng vần trắc (gieo liên tiếp). Hai chữ trời và người vần bằng (gieo liên tiếp)

2. Vần gián cách:

Hiệp vần gián cách: nghĩa là một vần bằng rồi đến một vần trắc và ngược lại.
Bài thơ “Hồn Xuân“ của Thế lữ tiêu biểu cho lối hiệp vần này.
“Tiếng ve ran trong bóng cây rậm mát
Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời,
Gió nồng reo trên hồ sen rào rạt,
Mùa xuân còn, hết? Khách đa tình ơi!”
Chữ mát vần trắc, rồi đến chữ trời vần bằng.

3. Vần ôm nhau:

Hiệp vần ôm nhau nghĩa là: hai vần trắc xen vào hai vần bằng hoặc trái lại.

Tỉ dụ bốn câu thơ dưới đây trong khổ 1 bài thơ “Hồn Xưa” của thi sĩ Vũ Đình Liên cho chúng ta khái niệm rõ về vần ôm.

“Lặng lẽ trên đường lá rụng mưa bay,
“Như khêu gợi nỗi nhớ nhung thương tiếc”
Những cảnh với những người đã chết,
Tự bao giờ phảng phất đâu đây!”
Chữ tiếc và chết vần trắc bị ôm bởi hai vần bằng là chữ bay và đây

4. Vần hỗn tạp:

Các vần bằng và trắc không theo nhất định nào cả.

Khổ 1, trong bài “Tiếng Trúc Tuyệt Vời” của Thế Lữ, thi sĩ cho chúng ta thấy được lối gieo vần hỗn tạp thật rõ nét.

“Tiếng địch thổi đâu đây,
Cờ sao nghe réo rắt?
Lơ lửng cao đưa tận long trời xanh ngắt.
Mây bay… gió quyến, mây bay…
Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt.
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may,
Chữ đây vần bằng, chữ rắt và ngắt vần trắc, rồi đến chữ bay vần bằng, chữ dặt vần trắc và cuối cùng chữ may vần bằng.

C. Điệu Thơ (Air):

Điệu thơ tức là nói đến cách sắp đặt và phân phối các tiếng trong câu thơ sau cho âm thanh và tiết tấu được êm ái dễ nghe và cho hợp với tình ý trong câu. Điệu có lúc khoan, lúc nhặt, lúc mạnh mẽ, lúc du dương, trầm bổng làm cho bài thơ có sự điều hòa . Cho nên các nhà thơ Tây Phương rất chú trọng đến điệu của một bài thơ. Họ rằng điệu là một phần tử cốt yếu của bài thơ hay nói khác hơn đó là điểm lỏi tạo nên giá trị của bài thơ. Và thơ chính vì có điệu mới có sự khác biệt với văn xuôi.

Trong tập hợp để cấu thành điệu thơ, các nhà phân tích âm vị học cho rằng điệu được cấu thành 2 nguyên tố: Âm thanh và tiết tấu.

1. Âm thanh (Voice):

Trong thơ cũ đặc biệt là thơ Đường vì bị ràng buộc bởi luật bằng trắc, nên các nhà thơ khó lựa chọn các tiếng cho âm hưởng câu thơ hợp tình hợp ý để diễn đạt ra.

Thơ Mới vì không ràng buộc bởi những luật lệ ấy nên dễ chọn lựa các âm thanh cho phù hợp với tình ý trong câu thơ, dùng những tiếng có âm thanh nhẹ nhàng để diễn tả những cảnh êm đềm, những tiếng có âm thanh mạnh để diễn tả những tình cảm mãnh liệt.

“Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cõi sơn lâm, bóng cả cây già,
Với tiếng giógào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khí thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng”
(Thế Lữ)
Bài thơ trên đây những tiếng có gạch dưới diễn tả cáo oai lực dũng mãnh của con hổ.

3. Tiết tấu (Rhythm):

Trong thơ mới cũng cần có tiết tấu để bài thơ có nhịp nhàng, người thi sĩ phải biết ngắt câu thành từng đoạn dài ngắn khác nhau để điệu thơ trầm bổng mà không trở nên buồn tẻ.

Lối thơ ngũ ngôn cũ thường ngắt câu theo cách thức: 2-3, 1-4 hoặc 4-1.

Tỉ dụ bài thơ “Khóm Gừng Tỏi” của Ôn Như Hầu .

Lởm chởm/gừng vài khóm

Lơ thơ/tỏi mấy hàng

Vẻ chi/là cảnh mọn

Thế mà/cũng tang thương

Trong những bài thất ngôn bát cú cách ngắt câu khác hơn ngũ ngôn. Trong những bài thơ thất ngôn bát cú cách ngắt không theo một luật nhất định. Tuy nhiên thông thường các nhà thơ thường ngắt câu theo một trong thể thức sau: 4-3, hoặc 2-5.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan cho chúng ta cách ngắt câu trên.

Bước tới đèo ngang/bóng đã tà;
Cỏ cây chen đá/lá chen hoa.
Lom khom dưới núi/tiều vài chú
Lác đác bên sông/chợ mấy nhà.
Nhớ nước/đau lòng con quốc quốc;
Thương nhà/mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại/trời non nước
Một mảnh tình riêng/ta với ta.

Đối với thơ mới, vì theo tiết tấu của Pháp nên cách ngắt câu trong bài thơ tùy ý dài, ngắn khác nhau, không theo một định lệ nào. Ngoài ra còn dùng lối đem xuống đầu câu dưới một vài chữ để làm trọn nghĩa câu trên (rejet ou en jambement) gây chú ý cho người đọc.

Đoạn thơ sau đây của Thế Lữ chứng minh cho lối ngắt câu không theo định lệ trên.

Bấy lâu nay/xuôi ngược trên đường đời,
Anh thấy chăng?/Tôi chỉ hát, /chỉ cười
Như vui sống mãi/trong vòng sung sướng
Là vì tôi muốn/để cho lòng tôi tưởng
Không bao giờ còn vết thương đau
Không bao giờ/ còn thấy bóng mây sầu
Vương vít mãi./Bạn ơi/nào có được.

IV. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ MỚI TRONG NỀN VĂN HỌC NƯỚC TA:

Sau cuộc cách mạng năm Tân Hợi (1911) do bác sĩ Tôn Dật Tiên khởi xướng với các tư tưởng dân chủ, dân sinh và dân quyền, nền văn học mới của Tàu đã chiếm lĩnh tòan bình diện văn học của Trung Hoa, và đã không ít truyền sang nước ta những tư tưởng học thuật Âu Tây nhưng vì là gián tiếp nên ảnh hưởng chưarõ rệt cho lắm. Mãi sau khi người Pháp cai trị nước ta, Pháp học một ngày một phát đạt số người Việt học chữ Pháp càng ngày càng tăng nhiều, do đó các bậc thức học có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với nền văn học Aâu Tây nên hấp thụ các tư tưởng mới .Và theo cao trào tư tưởng nền thơ Mới du nhập và phát triển mạnh mẽ, chen trong nền văn học cổ của nước ta tạo một vị trí quan trọng trong lãnh vực ảnh hưởng tất yếu trên nhiều phương diện.

1. Về mặt luân lý xã hội:

Thơ Mới đã góp phần đã phá những hủ tục cổ xưa của dân tộc ta, góp phần tạo một luồng tư tưởng mới nói đến chủ nghĩa cá nhân, nhằm đề cao hạnh phúc , quyền lợi của cá nhân, những quan niệm về công dân và sự bình đẳng trên nghĩa vụ và quyền lợi, về phương diện nghề nghiệp các nhà thơ Mới đã chứng minh cho xã hội phong kiến của ta thấy rằng: không một nghề nào trọng hay khinh,như những quan niệm cổ của xưa là “Nhất sĩ, nhì Nông, Tam Công Tứ Thương” mà nghề nào cũng được coi trọng cả, ngọai trừ những nghề nghiệp xã hội cho là kém đạo đức hoặc bị cấm bởi nhà cầm quyền đương thời. Đồng thời với luồng tư tưởng mới qua thơ Mới hết sức tôn trọng danh dự và phẩm giá của con người.

2. Về mặt văn chương:

Phong trào thơ qua thơ Mới đã đóng góp tích cực vào nền quốc văn của nước ta. Trước đây các cụ viết văn bằng chữ Nho, có ý khinh miệt nền quốc văn còn phôi thai của nước nhà, các cụ thường theo lối từ chương và khi sáng tác những tác phẩm phần lớn ảnh hưởng đến người có tước phẩm hoặc dòng tộc vua chúa mà ít nghĩ đến những con người có tâm hồn cao quí hoặc tầng lớp dân giả. Trái lại qua quốc văn và với thơ Mới, các thi sĩ tân học đã thực sự biết quan sát và và mô tả cảnh vật xác thực, biết để ý đến cuộc sinh họat của người bình dân.

3. Về ngôn ngữ và văn tự:

Phong trào thơ Mới thịnh hành đã góp phần làm phong phú chữ quốc ngữ của nước ta, các văn thi sĩ sáng tác biết trọng sự bình giãn, sáng sủa gãy gọn theo lối cú pháp Tây học, vì thế vai trò của thơ Mới xem như là yếu tố đưa nền quốc âm Việt Nam đến thịnh hành.

V. KẾT LUẬN:

Thơ Mới được cấu trúc theo thi phú của Tây Phương, nên mang nhiều âm hưởng mới lạ. Nhất là thơ Mới du nhập vào nước ta trong thời kỳ chữ quốc ngữ đang trên đường phát triển. Cho nên có thể nói: phong trào thơ Mới là một chìa khóa văn học đưa chữ quốc ngữ đến thịnh hành trong nền văn học nước ta.

Tưởng cũng nên nhắc lại, thơ Mới được xem như là một bộ phận trong nền văn học nước ta,và hơn nữa đã góp phần không nhỏ vào làm phong phú cho văn chương nước nhà như hiện nay, phong trào thơ Mới cũng trải qua thời gian bút chiến gay go giữa thơ cũ và thơ mới. Các nhà thơ cũ đứng đầu là nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cho rằng: “Thơ Mới nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn. Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ so với Á học như dưa đắng, sánh với Âu văn tựa mít sơ”. Các nhà thơ Mới đại diện là nhóm Tự lực Văn Đàn với tờ báo Phong Hóa cho rằng các nhà thơ cũ ưa dùng những từ ngữ, hình ảnh cũ kỹ sáo mòn, hễ mùa xuân thì trăm hoa đua nở, mùa hè thì tiếng cuốc kêu, tiếng ve… mùa thu thì sương sa gió thổi, lá ngô đồng rụng, mùa đông thì tuyết phủ, mặc dù Việt Nam chẳng bao giờ có tuyết.

Sau cùng thơ Mới vẫn thắng thế và đứng vững trong nền văn học. Có điều đáng nói là từ ngày thơ Mới du nhập vào nước ta đến nay gần một thế kỷ, thơ Mới ngày ấy nay trở thành thơ cũ. Một thời đại trong thi ca đã khép lại, nhưng chúng ta phải công nhận thơ Mới là một thực thể văn chương không thiếu góp phần làm phong phú nền văn học nước ta.

HÀ ĐÌNH HUY

Sách tham khảo:
Hà Xuân Tế (Unpòete annamite moderne) indochine 1941
Hoài Thanh và Hoài Chân (Thi Nhân Việt Nam) 1932- 1941
Dương Quảng Hàm (Việt Nam Văn Học Yếu Lược)
Huyền Viễm (Kiến Thức Ngày Nay)
Nhất Linh (Thế Nào Là Thơ Mới)

8 tháng 4, 2013

Sáng tác thơ Đường luât (Ngũ ngôn bát cú)




Của Hoàng Thứ Lang

Thơ Ngũ Ngôn Bát Cú Đường Luật là bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 5 chữ được làm theo luật thơ Đường Luật, cho nên còn gọi là Thơ Ngũ Ngôn Luật (Ngũ Ngôn Luật Thi).
Thơ Ngũ Ngôn Bát Cú Đường Luật giống như Thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật nhưng mỗi câu đều bỏ đi hai tiếng đầu câu, chỉ còn lại năm tiếng sau cùng.
Về Niêm Luật Vần Đối thì vẫn y như Thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật.

Sau đây là bảng luật thơ:

1. LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:

T - T - T - B - B (vần)
B - B - T - T - B (vần)
B - B - B - T - T (đối câu 4)
T - T - T - B - B (vần) (đối câu 3)
T - T - B - B - T (đối câu 6)
B - B - T - T- B (vần) (đối câu 5)
B - B - B - T - T
T - T - T - B - B (vần)

Bài thơ thí dụ để minh họa:

DỞ DANG

Tí tách giọt mưa rơi
Lòng thương nhớ một người
Niềm đau hoài chẳng cạn
Nỗi khỗ mãi không vơi
Lá úa bay đầy ngõ
Hoa tàn rụng khắp nơi
Tình đôi ta cách trở
Trọn kiếp dở dang rồi

Hoàng Thứ Lang

2. LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:

B - B - T - T - B (vần)
T - T - T - B - B (vần)
T - T - B - B - T (đối câu 4)
B - B - T - T - B (vần) (đối câu 3)
B - B - B - T - T (đối câu 6)
T - T - T - B - B (vần) (đối câu 5)
T - T - B - B - T
B - B - T - T - B (vần)

Bài thơ thí dụ để minh họa:

LỠ LÀNG

Tình ta đã úa mầu
Vĩnh viễn phải xa nhau
Kẻ lấp hờn ngăn tủi
Người ôm thảm ấp sầu
Bồi hồi sa ngấn lệ
Thổn thức nhỏ dòng châu
Đã lỡ làng duyên nợ
Lìa tan mộng ước đầu

Hoàng Thứ Lang

Lời bàn:
Từ đây trở về sau, chúng ta chỉ nghiên cứu để biết qua tất cả những thể Thơ Đường Luật mà không cần ưa thích cũng được.
Thơ Đường Luật chỉ có Thất Ngôn Bát Cú vần bằng là hay thôi.
Những thể khác hoặc vì câu quá ngắn (như ngũ ngôn) hoặc vì cách gieo vần quá trắc trở (như TNBC & NNBC vần trắc) nên nghe không êm tai.
Tóm lại chúng ta chỉ cần trau dồi tinh tường thể thơ TNBC/ĐL vần bằng thì các thể khác chúng ta chỉ cần nhìn qua là làm được ngay.