Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

15 tháng 3, 2017

ĐÙNG MỘT CÁI


Một ánh chớp, một lằn sét, một tiếng nổ, bất ngờ, đột ngột, thiển cận như tôi chỉ biểu lộ 1 từ thô kệch: -“đùng một cái”
Đùng một cái: Bạn tôi lớp đệ tam rời chủng viện, quá đỗi nhiệt tình phải trả giá, nuối tiếc ngỡ ngàng, xót xa vô tận, đức vâng lời bị hiểu lệch dẫn đến trừng phạt nặng nề, ơn Thiên triệu vừa mới manh nha đã sớm chấm dứt rồi chăng? Bạn cúi đầu cam chịu, nuốt ực nỗi lòng, bến phà Vàm cống hất ngược lại bờ trần tục, miệng làm câm tai giả điếc, bóng sắc giai nhân lởn vởn quẩn quanh, nghiến răng và nhắm mắt, không không không!…
Đùng một cái: Dòng Tên I-Nhã (SJ) nhận đơn ghi danh, sau nhiều năm cố giật mảnh bằng tú tài thoát phần quân dịch, lại ngày tháng miệt mài dưới mái Văn khoa Sài Gòn, cậu sinh viên cũng tóm được cử nhân đại học, đường công danh mở rộng, hạnh phúc chào mời, không không không!…
Đùng một cái: Thay cờ đổi chủ, chiếc áo dòng cất đáy va-li, bôn ba ngược xuôi nghề ngỗng, kiếm miếng ăn để tồn tại: Sản xuất nông trường, quần xăn móng lợn, áo bạc sờn bâu, anh hát bài ngợi ca cây lúa…nắng Củ-chi cháy da người, mổ hôi chát mặn nơi môi, khổ khổ khổ!
Đùng một cái: Lại trở về tu trì sau khi cạn cốc cay chua, thầy ngẩng đầu từng bước một tiến lên bàn thánh, chén vàng, đĩa bạc, lòng son, chính thức tận hiến thân mình, cảm nhận không bị bỏ rơi mà yêu thương tràn trề đổ xuống, Thiên chúa trui – rèn- mài- dũa- gọt thầy trong bễ lửa, mong nên vàng ròng tinh luyện,Thánh thần róc- uốn- vo- nhào thầy để thành mỹ phẩm tuyệt vời, … Bước đầu hạ sơn đời linh mục qua  hai xứ đạo Tân Mỹ và Bạch đằng đầy hoan lạc… vui vui vui!
Đùng một cái: Được bề trên tuyển chọn du học tại Pháp, Hội thừa sai Ba-lê: MEP   (Missions  Etrangères de Paris). Năm năm mài miệt sách đèn, thu nhận văn bằng Cao học Thần học trở về cố quốc, thêm nhiều năm dậy bảo môn sinh, gieo vun trí tuệ… phờ phờ phờ!
Đùng một cái: Toà Thánh Rôma tấn phong ngôi giám mục vào độ ngũ tuần, nhẫn- mũ- gậy lỉnh kỉnh hành trang, vai giám mục phụ tá với hàng tá việc phụ, muối cứ ướp và đèn cứ soi, bừng bừng ánh đuốc, miệng môi rung bật thanh âm, con tằm nhả tơ vào hồi sung mãn, chữ nghĩa giàn trải, ý nhạc trào dâng… vang vang vang.
Đùng một cái: Nhận bài sai cai quản địa phận, oằn vai cong lưng gánh vác, xì xèo lời ong tiếng ve, chiếc mũ Mitra bắt đầu nặng chịch dần dần, mà cây gậy chủ chăn cứ vững vàng trên mọi địa hình, da Đức cha đã thấm mùi nồng của chiên, máu đã tẩm mùi tanh của cá, đi và đi đến tận cùng giáo phận Phan Thiết, vì “Tình yêu Chúa Ky-tô thúc bách”, tay cày đã quyết nên không nghi ngại, tấm lưới đã bủa sợ gì bão giông, quyết quyết quyết.
Đùng một cái: Thân thể mỏng dòn đột ngột rã rời, người cha chung khả kính bất ngờ ra đi, vội vã nằm xuống như chưa từng, việc Chúa làm ai đâu suy thấu, mấy vị vọng hối hận muộn màng, xưa kính mà không yêu, nghe mà chẳng làm, đức vâng lời cố tình bỏ ngõ, lời trần tình nguỵ biện sáo mòn… Duy vạn chiên nước mắt dâng trào, tâm tư quặn thắt, người đi phương ấy xa xôi lắm, con ở chốn này lạc lõng thay, sầu dâng chất ngất, lệ ngập tràn tuôn… Buồn quá buồn quá buồn quá.
Những tiếng đùng, âm ba cứ rền rĩ trong suốt hành trình đời bạn, tuy xác thể vùi sâu nhưng anh hồn bạn đã ở trên cao cao lắm, chén cứu độ của Thầy Chí Thánh Giê-su, bạn đã uống sạch trơn, nhanh gọn đến bất ngờ, bạn dốc ngược cốc mà hô to “sơn trạch” này “long chỉ”… hết hết hết.
Duy Thống nghĩa là một mình ngậm nỗi đau, tên gọi vô tình mà như định mệnh, nuốt vào trong sầu buồn nhân thế, mà lại toả ra ngoài hoan hỷ đời thường, nụ cười trên môi không tắt, ngôn phong miệng lưỡi rộn ràng, nay không còn nữa, người thực sự nghỉ yên, thân xác rữa mục đúng ngày Lễ Tro khởi điểm mùa chay, cát bụi cát bụi cát bụi.
Giáo hội tôi mất một giám mục tài ba, triệu chiên chúng tôi mất một chủ chăn ái truất, và… cá nhân tôi đã mất anh người bằng hữu chân tình, mất vĩnh viễn trên cõi nhân thế phù du, hạt giống vùi đi, mau hãy trổ sinh vô vàn mầm sống diệu kỳ. Xưa Thầy Chí Thánh trong cơn hấp hối đã nguyện rằng: “Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng chẳng biết việc chúng làm”. Cũng thế, trong bốn ngày dù hôn mê sâu trong bệnh viện, tôi tin Đức cha cũng khẩn nài xin Chúa thứ tha hết thảy: “Lạy Cha xin tha luôn cho chúng, dù chúng biết rõ điều sai mà cứ làm, do lòng kiêu căng nên ghen tỵ, do tự mãn nên cưỡng lệnh, do tính đố kỵ mà quàng xiên lầm lỗi, xin soi cho chúng biết để ăn năn”…

Bùi Nghiệp

8 tháng 1, 2017

NGÀY ÁP TẾT



Nhớ về quê xưa sau 50 năm lưu lạc, tất cả đổi thay không còn chi dấu vết, cầu tre lắc lẻo đâu rồi, mái lá vách đất còn chi, thay vào đó là bê tông hoá toàn bộ, cửa nẻo khang trang, đường xá nhẵn phẳng, nhà cao cửa rộng, thánh đướng nguy nga, lối vào nghĩa trang rộng rãi, hai bên cây kiểng tỉa tót xanh um, xe cộ phóng vèo vèo lịch lãm, bất chợt cảm khái nghĩ đến câu thơ bi thống:
-Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo - nền cũ lâu đài bóng tịch dương…
Bao ký ức xa vời hiên về mồn một trong tâm khảm.
o0o
Trời trong, cao và xanh ngắt, những lọn bông trắng từ cây gòn bay lả tả quyện theo chiều gió, từng đụn rơm to tướng vàng nhạt đã mọc lên sau nhà, ngoài cánh đồng mênh mông vừa qua mùa thu hoạch chỉ còn trơ cuống rạ vàng nâu, không gian toàn vùng châu thổ miền Nam hơi se khô lành lạnh, năm cũ niên lịch sắp qua, cứ thế xoay vòng luân chuyển để rồi sang năm mới, đánh dấu bằng cột mốc thời gian: Tết cổ truyền nguyên đán, ấy là vào khoảng thập niên sáu mươi.
Dân từ Bắc vào Nam định cư miền châu thổ Cái sắn, nhà nhà quy tụ hai bên bờ kênh đào, sinh nhai chuyên nghề làm ruộng, mảnh đất phì nhiêu mưa thuận gió hoà ưu đãi, mới dăm năm mà đã thoát cảnh bần hàn, của để thì chưa nhưng cái ăn đã đủ, người người rộn ràng đón chào năm mới xem ra vui đáo để.
Tối hôm 29 tết bố tớ truyền hịch:
-Sáng mai mẹ đi chợ, chị sửa soạn nồi niêu bát đĩa xoong chảo, quét tước thu vén, anh cắt tàu chuối lá dong rồi đi mổ lợn chia phần, bố lau dọn bàn thờ, sửa mộ, thằng cu con sai vặt chỉ đâu đánh đó, ai vào việc nấy cấm cãi, hết.
Mẹ lầm bầm:
- Bố mày cứ như ông tướng
 Chị cười rúc rích, anh vòng tay: 
-Tuân chỉ lão tiền bối,
 Mặt bố tớ vênh lên đúng nòi gia trưởng.
Mới gà gáy canh tư, mẹ đã lục đục cắp thúng đi chợ, đoạn đường chợ xa đi bộ tính bằng cỗ tràng hạt 3 mùa, chị cũng lỉnh kỉnh vo gạo thổi cơm,  lạch cạch nồi niêu ngâm gạo nếp, đỗ chè để gói bánh. Mới tảng sáng thôi mà cả nhà ai cũng bận rộn lăng xăng theo phân công của bố, hăng tiết tựa người lính sắp xung phong trận mạc.
Anh lớn xăng xái ra vườn như y lệnh rồi sang nhà hàng xóm phụ mổ lợn chia phần “đánh đụng”, các nhà rủ nhau bàn bạc trảm nguyên một chú trư to, sáu tháng bồi dưỡng vỗ béo toàn cám gạo rau khoai, không qua một lần hoá chất, nay đến ngày “hiến tế” cho người, bõ bao thời gian nhọc nhằn nông vụ.
Bố vác xẻng cuốc lên vai, tớ ôm nhang nến lẽo đẽo sau như tiểu đồng hầu sư phụ, băng đồng tiến thẳng Đất thánh, năm trước mai táng ông nội mãn phần, nghĩa trang đã quây khu nhưng chưa tạo lập, mươi hình thánh giá đánh ghi mộ phần người khuất, trơ vơ giữa đồng không mông quạnh, héo hắt đìu hiu với buổi tàn đông, chẳng cây cao bóng cả, chỉ lèo tèo vài đám đài bị rậm rì lúc nào cũng xanh ngắt, mấy bụi lách lau tháng chạp trổ bông phất phơ trong gió … Bố cuốc cỏ đắp đất vun mộ, hai cha con cúi đầu tưởng niệm vong linh, đọc kinh cầu cho ông nội đã xa phần dương thế, mỗi người thầm thĩ khấn xin, vòng hương khói mờ thoang thoảng, ánh nến nghiêng ngả chao chao, mong ông nội chứng giám thành tâm, tội nghiệp cụ quá, nắm xương già gởi cho phần đất ly hương, kiếp người đến ngày chấm hết… Rồi ra khi nghĩa  trang vượt lập xong, nhất định phải xây cho cụ khung mồ xứng đáng, gọi là chút báo hiếu thành tâm.
Mẹ đi chợ đã về, trong thúng bao nhiêu là lương thực, nào hạt dưa bánh mứt chè sen , nào cam quýt củ quả ê hề, ôi thôi đủ thứ, tớ nhẩy cẫng lên sung sướng quá, ước chi ngày nào cũng vậy…Vội vàng nhảy tót sang nhà hàng xóm, phần thịt anh đã chia xong, đâu cần bàn cân chính xác, đại khái bốn cây thăm, ai rút trúng thăm nào nhận phần thịt đó, không phân bì so đọ, giản đơn mà vui vẻ đề huề. Bố đang sửa sang bàn độc, lau chùi khung ảnh chân đèn, mỗi động tác đều trịnh trọng kính cẩn, mong đêm xuân thần linh về chứng giám.
Buổi chiều bố trải chiếu ra chái bếp hì hục gói bánh chưng, anh ba cũng khéo tay ra phết, tấm bánh vuông vắn chắc nịch, bố vừa làm vừa kể cho cả nhà nghe sự tích ngày xưa, đời vua Hùng thứ 6 có hoàng tử Tiết Liêu thật thà chơn chất, được thần linh mách dậy trong chiêm bao, làm ra tấm bánh, cùng nhiều  hoàng tử khác dâng lễ phẩm lên vua, với bao nhiêu sơn hào hải vị, kỳ hoa dị thảo, ngọc ngà quý hiếm. Trong khi đó Tiết Liêu chỉ có giản đơn mâm bánh dầy bánh chưng lại mang đầy nhân sinh triết lý, vậy mà đã làm cảm động vua Hùng, cho nối ngôi vương đế, sự tích này hơn hai mươi thế kỷ vẫn lưu giữ lại nhân gian, đó chính là phong tục truyền thống. Giọng bố đều đều giàn trải, cả nhà đang ồn ào bỗng im phăng phắc lắng nghe, thi thoảng một tiếng ồ vui suýt xoa thán phục.
Đêm đó khi nồi bánh đã được bắc lên, lửa bập bùng reo trong bếp, bố con nằm khểnh giữa sân gác chân chữ ngũ thong thả ngắm bầu trời, đêm trừ tịch vầng trăng đi vắng, sông ngân hà bát ngát ánh bạc vắt ngang, các ngôi sao lung linh nhấp nháy, bố chỉ cho tớ nhận biết vị trí sao thất tinh Bắc đẩu, Tua rua, Song sinh, Thợ săn, Cự giải… Tháng này khi canh hai mới thấy được sao Mai phương đông và sao Thập tự phương nam… Cứ như là nhà thiên văn thực thụ ấy!
Chờ đúng nửa đêm, giây phút giao thừa long trọng, cả nhà quây quần hướng lên bàn thờ đọc kinh phục dĩ cầu cho tiên tổ, khấn xin Chúa Trời ban bình an , đó đây những tràng pháo nổ đì đùng đón chào năm mới, hồi đó pháo được tự do sản xuất và vui chơi, chứ không như bây giờ cấm tiệt, đúng là:
-Tết xưa pháo nổ trước hè - Tết nay pháo nổ lên xe vô tù.
Cả nhà càng thêm rộn rã khi anh rể chồng chị cả cõng con lần mò sang chúc tuổi, cháu gái đầu lòng bé tí mà lanh lợi, được bà ngoại chuẩn bị sẵn, moi túi lì xì mừng tuổi nguyên một phong bao, và cậu út là tớ làm ngựa nhong nhong hầu công chúa…
Bố khề khà nhấm nháp chút men đầu xuân gật gù cùng anh rể. bánh chưng nóng hổi mới vớt ra, món dưa hành tím nhạt hấp dẫn với đĩa thịt luộc ba rọi ngậy bùi, bố vợ con rể “người dưng khác họ” ra chiều tâm đắc lắm, quả là:
-Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ - cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh. 
Một đêm trừ tịch thanh bình chưa tiếng súng…
o0o
50 năm vèo qua vật đổi sao dời, bố mẹ thân xác đã nghỉ yên nơi quê hương thứ hai Cái Sắn, hài cốt ông nội cũng cải dời về nghĩa trang lịch sự, anh chị tớ thì lọm khọm lắm rồi, con cháu gái bé tí ngày nao giờ “nó” thành bà nội ngoại, nhưng sao kỷ niệm xưa cứ hiện về mồn một. Ngồi đây nơi phố thị phù hoa ồn ào náo nhiệt, tết ngày nay vẫn giữ chỉ là lấy lệ, đã có siêu thị nhà hàng cung phụng, chỉ cần nhấc cái “a lô”, sự tiện dụng đã mất dần đi cái truyên thống xa xưa, thật vậy:
-Tết xưa hồn thấy nôn nao - Tết nay cảm xúc cho vào hư vô.


Bùi Nghiệp

23 tháng 12, 2016

NOEL NGÀY CŨ


Sau phong trào di cư vào Nam, khoảng thập niên một chin sáu mươi, tôi còn bé lắm, chửa lên mười đấy ạ.
Cha mẹ định cư vùng Cái Sắn, ở đấy là xóm đạo toàn tòng, sau mấy năm làm nông vụ, nhà nhà tạm yên ổn nơi vùng đất mới, tuy mái lá vách đất trong cảnh nghèo nhập cư, nhưng sự thiếu đói không hề có, trong năm duy chỉ một vụ lúa mùa, đất đai phì nhiêu khí hậu ôn hòa, đãi ngộ kẻ tìm tự do nên cuộc sống không hề chật vật. Tôi cũng được học hành tự thuở lên năm, đổi đời rồi đấy!
Hết tháng các linh hồn, tháng mười một bắt đầu vào mùa Át, ngọn gió tây may se lạnh đã thổi toàn miền, nước vùng châu thổ cạn dần và cây lúa theo chiều ngả rạp đều xuôi một hướng, toàn cánh đồng nhất loạt lúa nghén đơm bông, ấy là thời điểm theo lịch phụng vụ khởi một niên mới, mùa Giáng Sinh lại đến…
Lũ tôi rủ nhau từ đầu tháng mười hai, làm một hang đá kính Chúa Hài Đồng, gom nhặt giấy xi-măng, giấy báo, chuẩn bị tre trúc căng khung, tíu tít cả tuần, lăng xăng í ới gọi nhau loạn xị vui đáo để, hí hoáy làm ngôi sao năm cánh phất bằng giấy bóng mờ có các tia chiếu rọi. Không có tượng nên tôi nhờ người hoa tay trổ tài vẽ vời trên giấy cứng, ảnh Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, có Đức Mẹ và Thánh Giu-se cung kính quỳ bên, thêm ba vua dâng lễ vật cùng đám mục đồng ngây ngô chiêm ngắm, lại có cả nhiều thiên thần bay lượn, Ai xem vào hết trầm trồ lại xì xèo bàn tán, ngưỡng mộ hoạ sĩ vườn.
Sân nhà tôi hôm ấy mới sáng sớm đã ồn ào náo nhiệt, đứa khiêng bàn làm bệ, thằng chặt tre trúc làm khung, đứa lấy bồ hóng trong bếp pha mỡ lợn quét lên giấy làm đá, lăng xăng nhộn nhịp quýnh quáng rộn ràng, các anh lớn vào tận Núi Sập chặt cành “đủng đỉnh” về trang hoàng cho sầm uất, cứ lao xao ngậu xị.
Mẹ tôi sáng tinh mơ đã lần ruột tượng bỏ ra mươi đồng cùng chị tôi đi chợ, chút chè thơm đãi các cụ, một chồng bánh đa, ít phong bánh và mớ kẹo cho trẻ vui vầy. Hàng xóm nghe tin cùng lục tục đào khoai sắn, đỗ lạc, chuối mắn góp phần rôm rả, lại phải có vài be rượu nếp hầu các cụ ông mới đúng lễ chứ!
Mấy ngày trước, ông anh tôi là lính bảo an mang cho một mớ bóng đèn chớp, và lô pin tép của máy truyền tin quân đội, cứ thế mà giăng cho huyền ảo…bố tôi cũng nhập cuộc chơi, mượn đâu được một đèn “măng-sông” thật luých, các cụ ông cụ bà cũng hoà mình với đám trẻ con, gật gù giúp đỡ, sân nhà tôi bỗng chốc biến thành một công trường huyên náo, đám con nít con nôi vô tình rộn rã kéo theo cả xóm. Xứ đạo ngày ấy chưa có cha quản sở, nên hầu như cả xóm tập trung nhà tôi, rộn ràng phấn khởi.
Buổi tối hôm đó khi màn đêm bắt đầu bao phủ, các chị trải chiếu khắp sân, anh tôi hì hục thắp đèn, ánh măng-sông chói loà sáng quắc, các lão ông bà láng giềng kéo sang, nhộn nhịp khác thường… Chung quanh hang đá bóng điện lập loè chớp tắt mờ ảo, bên trong nến thắp lung linh, soi hình Thánh Gia trịnh trọng, ngôi sao dẫn lối lấp lánh trang kim, toàn sân bừng lên náo nhiệt, khác hẳn bối cảnh đồng Be-lem quá khứ.
 Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…, tiếng hát đồng ca vang dậy, đêm nay mới thật là đêm, đêm huy hoàng - đêm thánh đức, Chúa Trời giáng thế làm phàm nhân ban ơn cứu độ, trẻ con chúng tôi đã làm nên kỷ niệm để đời, bà quản giáo cất kinh ngắm tắt thứ ba mùa vui giọng trong vắt như thiếu nữ, cả sân mọi người hoà theo: Ave Maria đầy gơ-ra-xi-a, Đức Chúa Dêu ở cùng bà, nữ trung gồm nhiều phúc lạ … Lời kinh suy niệm Thiên thần truyền tin kính chào mẹ Ngôi Hai mở đầu ơn cứu chuộc.
Dĩ nhiên đến phần lạc, kẹo bánh cùng ê hề nông phẩm trái cây củ quả, xóm giềng mang tới nhiều ăm ắp, các cụ ông nhâm nhi cút rượu bàn luận sấm truyền, các bà bỏm bẻm nhai trầu, những thiếu nữ chụm đầu cười rúc rich, còn lũ chúng tôi ôi thôi khỏi kể, vui mừng nhẩy cẫng.
Quá nửa đêm, sương đã xuống thật nhiều, nhưng ánh đèn luôn rực sáng, tiếng cười vui không ngớt… Khu vực miệt Ba Thê – Cờ Đỏ vẫn thanh bình không tiếng súng, chiến tranh còn mãi tận xa, lòng người dân dã bình an hòa với đất trời yên tĩnh…
…..
Cũng ngày này của năm mưoi năm sau, tôi đi giữa phồn hoa, chứng kiến nhiều hang đá vô cùng lộng lẫy, Chúa Hài đồng bụ bẫm phổng phao với tã khăn trắng muốt thơm tho, Đức Mẹ quý phái sang trọng hơn cả nữ hoàng nhân thế, còn thánh Giu-se quắc thước oai lẫm cầm trượng bảo vệ tựa Quan Vân Trường phò Lưu Hoàng Thúc, đèn hoa muôn sắc tưng bừng, trầm hương thơm bay ngào ngạt…
Đường phố quán xá đông nghẹt, nam thanh với ly rượu hảo hạng cụng ly chan chát, nữ tú quên cả mùa đông, váy ngắn vai trần nõn nà tươi mát, dung nhan lộng lẫy mà dửng dưng, vô cảm thiếu hẳn cái thần …
Bùi Nghiệp

9 tháng 2, 2013

NGÀY TẾT VÀ MÙA CHAY



LTS. Tác giả bài này là bạn học cũ, hiện nay ông bạn
 là linh mục đang phục vụ tại một xứ đạo bên Thụy sĩ.

Ngày Tết và Mùa Chay
     Tết là ngày gặp gỡ vui chơi. Có xum họp nhậu nhẹt thì mới thấm tình bè bạn và mới đúng là mừng Tết. Thế nhưng, ít ngày sau đó là bắt đầu Mùa Chay. Một người bạn nói với tôi : "Cứ ăn nhậu thả cửa mấy ngày Tết, rồi tới ngày 13.02 là Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta bắt đầu ăn chay đánh tội. Cũng như lái xe quẹo 360 độ ấy mà!"
     Tôi lái xe không giỏi. Quẹo 360 độ thì thế nào cũng đụng người khác! Hơn nữa, theo Y Khoa, sự quá khác biệt như vậy người ta gọi là bệnh Hai Cực (bipolar). Đây là một bệnh tâm lý thời đại dễ dẫn tới tự tử!!! Vậy thì tôi phải tìm cho mình một con đường thích hợp hơn mới được.
     Tôi nhớ tới một nhà thần học Chính Thống Giáo, ông A. Schememan, có nói : "Mùa Chay là một cuộc hành trình tâm linh mà điểm tới là Lễ Phục Sinh." Nhiều người Kitô giáo đi cuộc hành trình này. Họ theo Chúa 40 ngày trong xa mạc, ở đó Chúa bị cám dỗ. Họ ăn chay, đánh tội, kiêng thịt và nhịn ăn... để tránh cám dỗ! Cũng tốt thôi! Nhưng tôi là người ham vui. Vì thế, tôi tự đặt cho mình một câu hỏi duy nhất trong Mùa Chay này : Cám dỗ là gi?
     Một vấn đề rộng lớn mà ngày nay người ta còn tranh cãi. Một cô bạn gái nói với tôi : "Cám dỗ là khi en đi shopping thấy nhiều đồ đẹp muốn mua cho thiệt nhiều nhiều!" Một cô khác nói : "Cám dỗ là vì em đang làm "diet", thấy bánh ngọt thèm chảy nước rãi!"
     Theo tôi nghĩ, cái bẫy cám dỗ ma quỉ bày ra còn thâm hiểm hơn nhều : Chúng cám dỗ Chúa về quyền bính, nhưng Người chọn hiến dâng. Chúng cám dỗ Chúa về kiêu căng, nhưng Người chọn thấp hèn. Chúng cám dỗ Chúa về xa hoa phù phiếm, nhưng Người chọn đơn sơ khiêm tốn. Chúng cám dỗ Chúa về sự hào nhoáng của ơn gọi, nhưng Người chọn tuân phục thánh ý Chúa Cha.
     Phản ứng của Chúa trong sa mạc cám dỗ dẫn tôi tới ý nghĩa hành trình Mùa Chay : Tôi nhớ tới ơn gọi cao trọng đời tôi, đó là sự nhìn nhận khuyết điểm thiếu sót nơi mình, để xin Chúa thương sót, nâng đỡ và thứ tha... Hành trình này có vẻ nhẹ nhàng? Muốn đi xa thoải mái, ta không nên mang theo nhiều hành lý cồng kềnh, phải không bạn?
     Đó là lương thực nuôi dưỡng tôi trong dịp Tết, và nhất là trong Mùa Chay này. Bạn có thể có cuộc hành trình tốt đẹp hơn? Xin Chúa chúc lành cho bạn.
Trương Bình Định

30 tháng 1, 2013

THỬ NHẬN ĐỊNH CA KHÚC



 LỜI CON KÊU KHẤN.

            Trước mặt tôi là ca khúc mang đề tựa: Kết Hợp, thơ Đỗ Xuân Quế, nhạc Tiến Dũng, bài thánh ca viết nhịp đơn 2/4, theo mô hình cấu trúc abac. Tác phẩm đơn sơ, điệp khúc 2 bè mà bè dưới viết lặp lại một phần theo dạng “đuổi” (cấp bộ phỏng tạo-cacendar), phiên khúc xướng thơ thể ngũ ngôn, tác phẩm được viết khỏang thập niên 60, cách nay trên 40 năm.
            Ngay từ buổi ban đầu của lịch sử phát triển thánh ca Việt Nam, học giả Phan Phát Huờn đã viết lời bạt, trong tập bài hát của nhạc sĩ LM Hoàng Diệp (tác giả bài : Kià Bà Nào), thế nào thì gọi là thánh ca? Thánh ca phải có 3 yếu tố : THÁNH - THẬT và CÔNG GIÁO, thiếu 3 yếu tố trên, thì không được sử dụng trong nhà thờ và các nơi cử hành nghi thức phụng tự ( ví dụ các bài: Tà áo đêm Noel, Lá thư trần thế v.v…)
            Một nhận định khác mạnh mẽ hơn khi nói về thánh ca là nhạc sĩ Hùng Lân (ông còn bút hiệu khác là Nam Hoa), trước 1954, ông là nhạc phó nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh, vào Nam ông là giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn… Ông thẳng thắn nhận định nên nhạc thánh ca hiện tại (thời điểm thập kỷ 70), càng về sau các nhạc sĩ công giáo viết về lượng thì nhiều, nhưng về phẩm thì không bao nhiêu, sáng tác tùy tiện, buông thả, xu thời, thậm chí còn lấy lời của tài danh nào đó vào cho ca khúc mình ( ví dụ: …hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi…), thiếu chất Thánh - Thật là căn bản mẫu mực của thánh ca.
            Một bài thánh ca hay, thì đạt cả nhạc lẫn lời, người nhận định được nhạc hay thưc ra ít oi lắm, đó là những nhà phê bình âm nhạc, phải nghiên cứu, mổ xẻ, phân tích, đồng thời tham khảo ý kiến nhận định các đồng nghiệp khác, có khi khó hơn thầy thuốc chẩn mạch. Nhưng cảm nhận được ý lời hay là cả một cộng đồng, từ em bé thơ đền bậc cao niên, từ kẻ mù nhạc đến  người có nhạc vị cao. Bởi vậy lời ca phải hết sức chú trọng, nhất là ngôn ngữ người Việt  có dấu  giọng. Một bài thánh ca hay còn có tuổi thọ, trường tồn với thời gian, vì thời gian sẽ sàng lọc, những gì hay đẹp sẽ tồn tại, mặc nhiên đó là  định luật.
            Các nhạc sĩ công giáo Việt Nam vào hàng tiền bối, luôn xem các nguyên tắc trên và giữ gìn như kinh nhật tụng, khi sáng tác áp dụng triệt để về mô hình cấu trúc, xây dựng móng nền thật lô gích, dẫu bài nhạc giản đơn như mái tranh, hay đồ sộ như đền đài cung điện, thì vật liệu tạo thành thứ nào ra thứ ấy. Về ý lời  thì gọt giũa  niêm luật gieo vần đàng hoàng, cũng bởi quá cẩn trọng, nên về sau các hậu bối khi sử dụng, thì…rằng hay thì thật là hay, nghe xong cứ làm sao ấy…họ nói rằng thiếu bay bổng lả lướt, nên tâm hồn chỉ nâng tới “lưng chừng”…
            Những nhạc sĩ ngoài đời, khi cho ra mắt công chúng tác phẩm mình, họ rất lo lắng cho đứa con tâm huyết, là 3 yếu tố quyết định : Người trình bày – Giàn nhạc và khán thính giả, có khi tác phẩm thật công phu và tâm đắc, lại đau đớn yểu tử đắng cay, vì các yếu tố trên thô thiển không phù hợp.
            Bài hát “Lời con kêu khấn” theo tôi, Tác giả đã tâm đắc bài thơ đến độ giữ nguyên bản, chỉ lặp lại vài từ cho thêm ý vị, nét nhạc chuyển động đa phần quãng 2, 3 trưởng thứ, quãng 4, 5 và 8 đúng, về hợp âm đơn giản trong tam, tứ, thất trình.
            Vậy mà, ngày viếng linh cữu tác giả, chúng tôi những trò nhỏ thời xa xưa ấy đã hát bài này trong thánh lễ, không có đệm đàn, không tập dượt, chỉ có giọng nam hát hai bè đồng giọng, anh Quang lớp 64 đọc phiên khúc, chúng tôi đã hát với linh hồn và tâm tình tôn sư trọng đạo, thú thật: một kẻ lãng tử như tôi đã nâng lòng lên hết sức sốt sắng!...
Bùi Nghiệp
           

5 tháng 10, 2012

Bố Phao lô VŨ SỬU



    Lớp  mình có đưa ra một thông tin, hô hào năm nay chủ đề viết  về các ân sư ngày trước, thật là một ý-tưởng tuyệt vời. Các bạn có nhớ không? Bài hát Tiếng ve gọi hè 1965 của nhạc sĩ Mỹ Sơn viết cho lớp mình, gần 40 năm qua mà tôi còn nhớ, trong đoạn phiên khúc có câu: “…nhưng hè về lòng huống nhớ thương, nhớ đến bao vị ân sư tận tình…” Bài hát đang rộn rã vui tươi bỗng dưng chùng xuống, âm thanh và ngôn ngữ được Thầy Sinh sắp xếp như hoà quyện làm một vào nhau, tôi mượn câu hát này để nhớ về một ân sư, Ngài là Linh Mục Linh hướng mà tính tình Ngài hệt như một từ mẫu “ Bố Phao Lô Vũ Sửu. “
  
    Sách xưa có chữ:” Nhất tự vi sư bán tự vi sư “ Lại nữa trong Tam tự kinh phần cuối cũng có câu: “ Nhân di tử, kim mãn doanh, ngã giáo tử, duy nhất kinh “, đủ biết cái lớn lao công ơn Thầy dậy dỗ, đủ biết cái kính trọng thầy của người xưa quan yếu là dường nào. Bây giờ lớp mình, hàng tu sĩ có mấy người đã là giám mục, phẩm trật cao hơn Thầy gấp bội, hàng ngoài đời có nhiều người thành đạt cái thế kinh bang, chắc hẳn không ai quên được bố, ân sư cao quý trổi vượt hơn trong hai nhân đức: đơn sơ và khó nghèo.
    Ngày đầu Têrêsa, tôi và anh Lịch (cồ) được Bố đạo diễn một vở nhạc kịch, hát bằng tiếng Pháp hẳn hoi, nội dung: Lịch trong vai vua cha ghét đạo, còn tôi vai công chúa được rửa tội âm thầm, Lịch phát hiện ra tội bất hiếu cưỡng lệnh, phẫn nộ giết chết tôi, tôi được lên thiên đàng và Lịch bị quỷ sứ lôi xuống hoả ngục ( Vai quỷ sứ ở đây là Anh Trung Lương và Công Nghị ). Chả biết tôi diễn xuất ra sao mà về sau lớp mình cứ gọi là công chúa, còn A. Lịch thấy tôi là ồm ồm quát tháo” Cờ phe tờ vu ma fi ơ? “ Kỷ niệm ấu thơ đã làm củng cố đức tin của tôi trong những năm tháng chao đảo, dường như đã hoá thạch trong người.
    Năm ở Châu đốc, không ai không thích thú, sau bữa cơm chiều trước giờ kinh tối, được nghe bố thuyết minh dịch thuật tranh Tin Tin, tất cả im lặng, chỉ còn nghe âm thanh chuyển động nho nhỏ của phim và giọng dịch lưu loát của bố. Trong bóng tối của phòng chiếu, là những bàn ping pong tạm dẹp, hàng trăm khuôn mặt con trai chúng mình, miệng há rộng ra hồi hộp say mê… Vẫn biết bố công bằng nhưng dường như tôi cảm thấy bố thương tôi nhiều hơn các bạn, từ bé tôi thích làm thơ, lạ thay cái ma thuật chữ nghĩa ấy, tôi lại không đến với cha Giuse Đường việt văn, mà lại thích khoe cùng bố, bài nào hay bố thưởng cho một tấm ảnh đạo. Cứ như vậy trong khoảng 1 năm, bộ sưu tập ảnh của tôi đã dầy lên đáng kể, giờ nhớ lại những vần thơ thiếu niên ấy, tôi thấy nó ngô nghê và thèn thẹn làm sao.
    Cuối năm đó tôi rời Chủng viện vì hay ốm và học dở, bố buồn lắm! còn tôi khóc chỉ có anh Hiến (chùa) an ủi lau mắt cho tôi, Bố viết một lá thư dài gởi gắm cho tôi tu tiếp, với cha bề trên dòng Don Bosco Thủ đức, nhưng tôi lại ơ hờ vì không muốn đi tu nữa.
               Có một chuyện tôi thấy khốn nạn và hổ thẹn vô cùng, không một ai hay biết. Ngày ấy tôi đi lính, một lần về phép qua phà Vàm Cống, trong đám chen chúc đông đảo ấy, tôi thấy bố áo chùng thâm ngả bạc sờn rách hai khuỷu tay, thay vì chạy lại vấn an, tôi lảng tránh lẩn trốn ra xa, cái tự ti ngu xuẩn của tôi đúng ra chỉ có với bạn bè, sao lại hành động với ân sư. Phà rời bến tôi xa xa quan sát bố, giờ này đã tách ra khỏi dòng người, đứng cô đơn cuối cầu phà, ánh mắt xa xăm ngước nhìn trời cao sông rộng, tay lần tràng hạt, môi mấp máy cầu kinh, bố cầu cho nhân loại, cho Việt Nam thôi chém giết nhau, cho mọi người an bình trong đó có tôi. Phà cập bến tôi vội vã rời xa như tên phản phúc, nhớ lại cái hành động xuẩn ngốc đó, tôi luôn bị dằn vặt. Xin Chúa, bố và mọi người tha tội cho tôi.
    Chúa đã tha tội bội nghĩa của tôi, người quan phòng sắp xếp cho tôi có ngày gặp bố, ngày ấy đã đến rất ngẫu nhiên và rất tình cờ. Cám ơn bạn Trần Luyến và Viết Minh cung cấp cho tôi thông tin quý báu. Giờ này bố là Linh mục phụ tá xứ Thị Đam, ấp Mương kinh, xã Phú bình, Phú tân, An giang. Tôi rà soát những công trình điện khí hoá, Lạy Chúa! ấp Mương kinh có phần trong đó, bố ơi! nhất định con phải đến.
    Trên chiếc DH 88 cọc cạch tôi đến ấp Mương kinh khảo sát mặt bằng, tay Trưởng ấp còn rất trẻ gốc Phật giáo Hoà hảo quá đỗi mừng, tôi nhờ vả hắn nhiều chuyện để ”Đồng chí tôi sớm hoàn thành công tác”,  xem ra hắn hãnh diện lắm, hỏi dò về bố hắn hết lời khen ngợi, “Ong Cố Nhì” như một ông Thần sống, hắn càng hãnh diện với Bà con khi biết ông “xếp Điện” là học trò của Cố Nhì, thôi thì nhậu nhẹt chỉ là chuyện xoàng đối với dân miền Tây hào phóng.
    Trưa hôm sau chuẩn bị kỹ càng, tôi lấy đầu làm lỡi vào nhà xứ. Tuổi 70 Bố vẫn như xưa, tuổi cao và bệnh già không làm Bố chùn bước, Bố chuẩn bị xây dựng Nhà Chúa như một chứng tích giữa lòng những người không cùng tôn giáo. Ai cũng nói về bố: “Ông Cố Nhì” ngon hơn “Ông Cố Nhất”, Ông thương người, gương mẫu, hiền lành, hoà đồng, đạo đức ( đạo theo họ nghĩ là đạo làm người ). Chả vậy mà mới đây trong báo CGDT, có một Tác giả viết về Bố và Ong Năm mù. Ong Năm mù là cư sĩ tại gia đạo Phật giáo Hoà Hảo, trong hoạt động đời thường mang đầy nét chấm phá tinh thần Đức KiTô, bố mình là linh mục Công giáo khiêm tốn giản đơn, trong sinh hoạt xã hội lại đủ Bát chánh đạo Phật pháp. Chả biết nói gì hơn ngoài hai chữ diệu kỳ, vì Ông Năm mù ví như hoá thân của Tô bia cha, còn LM Sửu lại chuyển hoá thành Đức Phật Thầy Tây An, hệ Bửu sơn Kỳ hương vậy.
    Trong thời gian công cán, bố bắt tôi phải vào nhà xứ ở, cho nó yên tĩnh để “xếp” điều hành hiệu quả, và thầy trò dễ hàn huyên, cũng từ hôm đó tôi phải mở Toàn niên Kinh Nguyện học lại Kinh Lạy Nữ Vương thiên đàng để đáp thưa cùng bố, khi những trưa Nhà Thờ dóng lên hồi chuông Ngọ. Hai tuần trong nhà xứ, tôi chứa chan hạnh phúc, lại được cô giúp việc nhà xứ săn sóc chu đáo, những đặc sản vùng sông nước Cửu Long, khi thì chuột xào lá cách, rắn bầm, ếch um…Các bạn Khai phá của tôi đâu được hạnh phúc đó.
    Ngày Chúa nhật hôm đó bố hứa làm lễ sớm, sẽ cùng tôi đi thăm các Khai phá gần gũi. Tôi mượn chiếc Citi 100 chở bố cho oai, đường liên tỉnh lộ hẹp và ngoằn ngoèo, nhiều chỗ ổ gà xuống cấp, kim đồng hồ lên quá 60 mà bố chê không tốc độ. Bố ơi Bố cừ lắm đấy! Con chẳng giám nữa đâu!
    Đến thăm Bùi đức Hiền cầu Ong Quít, xứ Lộ Đức Nhà Thờ gác chuông mới toanh, Uy nghi bên bờ kinh hai bên nhà giáo dân san sát, Cha Hiền tiếc vì bận không thể tháp tùng, bố con lại một ngựa ruổi dong qua Vàm Cống. May quá Mai hùng Dũng có nhà, hôm nay Vàm Cống vui vẻ, Thần tài vé số xông nhà giáo dân và được tạ ơn một bữa cơm thịnh soạn, dĩ nhiên cha Dũng mời luôn bố và tôi cùng chia sẻ, họ rất phấn khởi khi biết bạn chở Thầy của cha sở đến thăm, cái nhất cử lưỡng tiện đó càng thêm phần rôm rả.
    Ngày chia tay bố lên đường, Bố tặng con một cuốn Tân ước với lời đề rất đỗi dấu yêu “ Kỷ niệm 33 năm Thầy trò ta xa cách “. Người đời cho con một rương vàng, Ta dậy con duy chỉ một Kinh, Kinh tình yêu của Thượng Đế, phú thác cho bố dậy con. Trước lúc chia tay bố nhắc đi nhắc lại “ …Cu Xì tin này, công ty con có nhiều người bên đạo, ngày Chúa nhật không đến được nhà thờ, con cố gắng xếp giờ tiện lợi, tập hợp nhau đơn giản đọc một đoạn Tin mừng, ba câu Kính Chúa, Đức Mẹ đồng công, hát một bài cảm tạ, đã đủ cho những tín hữu cùng con vất vả chốn chợ đời, công việc của con đấy! nhớ nha con!” Hơn 30 năm rồi tôi lại được khóc, nước mắt mềm của trang nam tử.
    Cuộc hành trình của bố về đất hứa đầy dẫy gian nan, bố đi con đường hẹp nhất, bố bơi nơi những con rạch vô danh, mỗi ngày của bố là một hy lễ, đầu bố đội mũ đầy gai ô rô móc mèo vuốt hổ. Bố tươi cười đến với “Dân ngoại” hệt như Phao Lô quan thầy của bố. Đúng vậy! Vùng Phú Tân là đất khai sinh Phật Giáo Hoà Hảo, địa danh Vàm Nao, Hiệp xương, Phú bình, Hoà lạc ngày ngày Bố vẫn hoà nhập. Tin mừng cứu độ như gió mát dịu đi cái ngột ngạt thế thời. Xin bố luôn là quạt tre, thân thương mà mát rợi.
    Con mượn hai câu thơ trong sấm giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ để kính dâng bố và tặng lại các cư sĩ địa phương nhé:
                                                “ Ta bà khổ, Ta bà lắm khổ
                                                  Tịnh độ vui, tịnh độ nhàn vui “
    Để giữa lòng dân tộc bố luôn khuyên người đời tu niệm .

Ngày mùng 3 Tết năm Nhâm ngọ (2002) nhớ Thầy.
Bùi Nghiệp.

CHA GIÁO THỊNH



Buổi sáng hôm ấy, nắng sớm đã rực rỡ hòa cùng bước chân tấp nập của những chàng trai tiến về nhà thờ Ngọc Thạch. Một ngàn khuôn mặt trẻ hân hoan vai đeo nhạc khí, về đây trẩy hội đọ sức đua tài, thao dợt âm thanh chuẩn bị mừng lễ Ngân Khánh tại Tòa Giám mục Long Xuyên.

            Chúng tôi hàng ngũ tề chỉnh đứng kín sân nhà thờ, xếp thành cơ đội thứ tự hàng lớp. Trước tiên là dàn Caisee-claire cùng grosse-caisse đeo lệch bên hông ngời ánh bạc, và dàn chũm chọe charleston lấp loáng màu đồng, ngay sau dàn clairon chuyên trị khúc dạo đầu thuần cung đô trưởng. Tiếp đó là đội ngũ bè soprano lanh lảnh chủ lực với hai loại trompette và clarinette, rồi đến đội ngũ saxophone loại alto, tenor và baryton duyên dáng, cổ cong cong như dàn thiên nga lông  trắng, lại nữa dàn trombone có ống thụt dài ngoằng, những cỗ contre basse nặng nề bòng bong rối rắm, mà miệng loa lại tựa đại đoá hướng dương, sau cùng lừng lững vươn lên hàng hélicon thánh giá nến cao hùng vĩ.

            Nhạc sĩ Văn Chi đứng trên bục nhạc  trưởng, tay trái cầm đũa, tay phải vươn dài mời gọi : “...Hai... một!”. Lượng âm thanh xé toạc không gian rền vang dậy sóng, bầy chim trên gác chuông, hoảng loạn tứ tán, cửa kiếng giáo đường rung động. Bài chào mừng hướng về Vatican được hòa âm. Bốn bè dị giọng, tiếng trống nhà binh roulement lăn dài theo nhịp. Bản hòa tấu kết thúc sau mười phút, không gian trở lại im lặng, nghe rõ nhịp thở của các nhạc công.

            Ô kìa ! Dưới sân có một trung niên, khuôn mặt khắc khổ với cái đầu húi cua quân đội, đặc biệt đôi thuần phong nhĩ hôm ấy như rộng thêm ra, đôi tai làm nhiệm vụ thu âm chắt lọc âm thanh để rồi... tu chỉnh cho hoàn hảo. Vâng! chính là linh hồn của cuộc thao dợt. Thầy chúng ta đó ! Linh mục Jacobe NGUYỄN ĐỨC THỊNH của thời điểm năm 1979.

            Kính thưa Cha Jacobe rất quý mến !

            Năm 1964, chúng con còn là những chú bé bước chân vào chủng viện Thérèse. Ngày ấy, Ngài còn là thầy bốn chức trẻ trung, dáng cao gầy, với mái tóc quân kỷ rất ấn tượng, giống như cha tử đạo Trương Bửu Diệp. Thân hình ngài đong đưa theo tiếng đàn accordéon treo trước ngực, đôi tay phù thủy lướt trên phím, cả một sóng hòa âm vang lên, rì rào như sóng vỗ, vút cao như rừng chim đua hót. Hoặc với cây violon bất hủ dưới cằm, các ngón tay phải nắn phím nhảy nhót như vành khyên, tay trái lại uyển chuyển cầm vĩ cầm múa khúc nghê thường, giai điệu mượt mà và âm sắc huyền diệu, mùi nhựa thông thơm nồng bay ra ngan ngát... Ôi người nhà tu nghệ sĩ. Phải chăng các âm thanh quyến rũ đó cho đến ngày hôm nay vẫn còn cuốn hút lớp chúng con, làm tiền đề tạo nên nhiều ca trưởng tầm cỡ và nhiều tâm hồn âm nhạc say sưa sáng tác.


            Chưa hết đâu, những màn đoản kịch và các vũ điệu đồng nam do ngài dàn dựng, đã để lại ấn tượng đầu đời sâu sắc, vẫn còn in đậm đến nay dẫu bao năm tháng nhạt nhòa. Hẳn ai cũng nhớ: đầu năm 1965, Đức Khâm Mạng Tòa Thánh về thăm địa phận và Chủng viện Thérèse, đám chủng sinh chúng con được tập họp ra mắt bề trên. Sau bài phát biểu của Cha Giám đốc Joseph Đỗ Xuân An là tới màn văn nghệ ngọt ngào bằng các bài hợp ca bằng tiếng Đức và tiếng Ý là màn trình diễn vũ khúc Hè về do ngài tập dợt với các vũ công Duy Thống, Quốc Tuấn, Năng Thể, Văn Hùng, Thanh Long, Văn Nam... Tất cả đều mặc đồng phục trắng, thắt lưng, xà cạp cuốn băng đỏ, tay cầm súng bắn pháo, cỡi trên lưng ngựa tưởng tượng nhảy nhót, hệt như những cowboy miền Viễn Tây nước Mỹ. Chắc hẳn hôm đó Đức Khâm Mạng rất vui và thư giãn.


            Những tháng ngày đầu ở Chủng viện là vậy đó. Phương châm giáo dục của Ngài đầy ắp tính văn nghệ và tâm lý. Những vở kịch ngắn đều kết thúc có hậu, phân biệt thiện ác rạch ròi, những vũ khúc ẩn tàng sự hướng thượng cao đẹp. Phong cách của Ngài mang tính dứt khoát, không do dự và đầy nam tính, chẳng uỷ mị, yếu đuối, nhu nhược, mà chịu đựng can đảm vươn lên. Một bài công dân giáo dục kinh điển làm sao thắm đượm và sánh được với khúc văn nghệ ấn tượng tích lũy. Chúng con được vui chơi để quên đi nỗi nhớ nhà, học tập và trưởng thành theo chân lý đức tin trong đạo, đồng thời biết hành xử đúng luân lý rất Việt Nam của cha  ông. Ôi ! hạnh phúc thay cho các trẻ nhỏ !


            Lịch sử nước ta có một nhà sư phái Trúc Lâm Yên Tử. Ông là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Đời Trần, khi giặc Nguyên Mông xâm chiếm, ông cởi   áo cà sa lao thân vào chiến địa, ăn thịt và uống rượu cùng binh sĩ, nguyện da ngựa bọc thây, lấy gươm đao bảo vệ quê nhà, giáo dục binh sĩ rất đời thường và huynh đệ chi binh. Quê hương trở lại thanh bình, ông tắm rửa tẩy trần bên sông Bạch Đằng,  khoác lại cà sa lên Yên Tử sơn quyết lòng tu đạo – Thầy Jac của chúng con cũng ở trong tuýp người đó.

            Trở lại thời điểm năm 1979 năm xưa, trên chiếc tắc ráng nhỏ với máy Kohler bốn ngựa tàng tàng, đi hết các xứ đạo trong hai hạt Thốt Nốt và Tân Hiệp, để vận động và quy tụ một dàn hợp tấu kèn đồng. Đến nỗi Đức Joan Baotisia Bùi Tuần phải ngạc nhiên thốt lên khen ngợi. Hội kèn này có số lượng đứng nhì thế giới chỉ sau Thụy Sĩ với 1.300 nhạc công. Riêng Đức Micae Nguyễn Khắc Ngữ thì gửi thư động viên chúc lành cho “Phường hội mới”

            Ngài thật vất vả. Có những xứ đạo với cha sở bảo thủ, có những nhạc trưởng như ếch ngồi đáy giếng hạch sách vu vơ, có những đố kỵ giữa hai giáo xứ, Ngài mang thông điệp hồng và âm thanh hòa giải  đến từng nơi đó, với bộ cánh quần nước xáo áo nước dưa, hoặc bộ chùng thâm sờn bạc, chân thấp chân cao mà lòng cứ phơi phới với trách vụ nặng nề.

            Tiếc rằng nhà nước trong thời kỳ quá độ, cửa lòng chưa được mở ra,  nên buổi trình diễn mừng Ngân Khánh của Toà Giám mục Long Xuyên không được thực hiện... Sau dịp này, Ngài về một họ đạo nhỏ của đất Kinh Bảy – Rạch Giá, hoàn toàn thanh thản, giáo dục thanh niên thiếu nữ cùng bằng văn nghệ ! Ôi thật tuyệt vời.

            Hơn hai mươi năm không gặp được Thầy ! Cơm áo gạo tiền, quan san cách trở, thật vô cùng bất nghĩa. Con viết bài này chẳng mong đến với thầy để khoe chút riêng, mà thổ lộ với anh em Khai Phá rằng, Thầy mình thật tuyệt vời, giờ đây có lẽ Thầy sắp bước vào tuổi thất thập cổ lai hy, mong Ngài luôn an khang múa lượn trên phím tơ huyền diệu. Ngài mãi là David nhảy múa trước hòm bia Thiên Chúa, ngài là lão Lai Tử trong Nhị Thập Tứ hiếu với : “Thấp cao điệu múa nhởn nhơ, sặc sỡ màu áo bạc phơ mái đầu”...

Vọng Giáng sinh 2002
             BÙI NGHIỆP